Xã Ngọc Hồi, Thành phố Hà Nội sau sáp nhập
Mục lục:
Thông tin tổng quan về Xã Ngọc Hồi sau sáp nhập
Xếp hạng Xã Ngọc Hồi
Xã Ngọc Hồi thành lập theo nghị quyết Số: 1656/NQ-UBTVQH15; Ngày: 16/06/2025Thông tin cơ bản:
- Mã số: 00679
- Trung tâm hành chính: Thôn Đại Áng, xã Ngọc Hồi
- Diện tích: 13.35 km²
- Dân số: 43,864 người
- Mật độ dân số: 3,374 người/km²
- Sáp nhập từ: Xã Ngọc Hồi, Xã Duyên Thái, Xã Đại Áng, Xã Khánh Hà, Xã Liên Ninh (phần còn lại sau khi sáp nhập vào xã Nam Phù)
Thông tin về Xã Ngọc Hồi (cũ - trước sáp nhập):
Ngọc Hồi là một làng, cũng là tên một xã thuộc huyện Thanh Trì, cách trung tâm Hà Nội 14 km về phía nam, nằm cạnh quốc lộ 1.
Vị trí địa lý
Địa giới hành chính xã Ngọc Hồi như sau:
- Phía tây giáp với xã Đại Áng
- Phía bắc giáp các xã Vĩnh Quỳnh và Ngũ Hiệp
- Phía đông giáp với xã Liên Ninh
- Phía nam giáp với xã Liên Ninh (huyện Thanh Trì) và xã Nhị Khê (huyện Thường Tín).
Làng Ngọc Hồi
Làng Ngọc HồiLàng Ngọc Hồi trước Cách mạng thuộc tổng Cổ Điển, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông. Làng nằm ở cửa ngõ phía Nam thủ đô, trên đầu mối giao thông thuỷ bộ quan trọng. Quốc lộ 1A song song với đường sắt Bắc- Nam dọc theo làng khoảng hơn một cây số. Làng Ngọc Hồi nay thuộc xã Ngọc Hồi, huyện Thanh Trì.
Làng còn có con đường cổ, xưa gọi là "đường Quai " hay "đường cái cao" vốn là con đường Thiên Lý từ Quán Gánh về Duyên Trường, Hạ Thái lên, qua làng Yên Kiện đến đầu làng Quỳnh Đô (xã Vĩnh Quỳnh) để vào Chợ Mơ, Thăng Long. Đường thuỷ có sông Tô Lịch từ Hồ Tây - Ngã Tư Sở chảy qua xuôi về Thường Tín.
Đầu thế kỷ 13, Ngọc Hồi có tên là Vĩnh Khang, là làng đông đúc, do ba anh em ông Bảo Công, ả Mô nương và Nhị Mô nương cai quản, trở thành một thế lực quân sự mạnh, ảnh hưởng đến cơ nghiệp của nhà Trần, nên Trần Thủ Độ đã mang quân đến trấn dẹp, song bị anh em Bảo Công đánh bại. Sau, Bảo Công đem quân của mình về với triều Trần, được gia phong làm tướng và lập nhiều chiến công trong cuộc kháng chiến chống Nguyên- Mông. Sau khi ba anh em mất, Vua Trần phong tặng Bảo Công là Quảng hoá đại vương, ả Mô nương là ả Mô công chúa và Nhị Mô nương là Nhị Mô công chúa, giao cho làng Ngọc Hồi đời đời thờ phụng. Hiện trong đình Ngọc Hồi còn 16 đạo sắc phong cho 3 anh em.
Cuối thế kỷ XVIII, mảnh đất Ngọc Hồi đã đi vào lịch sử đất nước với trận công phá đồn Ngọc Hồi vào rạng sáng mồng 5 Tết Kỷ Dậu (30 -1- 1789). Vết tích của hệ thống đồn luỹ Ngọc Hồi được xác định qua các địa danh Đồng Đồn, Nền Đồn, Cây đa Đồn. Vua Quang Trung đầu chít khăn vàng, cưỡi voi đích thân chỉ huy đội quân cảm tử, có các bức ván gỗ bện rơm ngấm nước phủ kín làm áo giáp, dàn hàng ngang đồng loạt tấn công vào đồn. Quân Thanh bỏ chạy tán loạn, giày xéo lên nhau mà chết. Số sống sót chạy về phía Bắc làng Ngọc Hồi. Một cuộc quyết chiến diễn ra tại đây.. Sử cũ ghi lại, "thây giặc nằm đầy đồng, máu chảy thành suối". Tại liệu địa danh minh chứng thêm: các gò Mả Cả, Mả Ngô là nơi chôn xác giặc, "Ao máu" là nơi máu giặc ngập ngụa. Các tướng giặc là Hứa Thế Hanh, Trương Triều Long đều tử trận. Sầm Nghi Đống cũng thắt cổ tự tử tại Ngọc Hồi. Quân Tây Sơn thừa thắng tiến vào Khương Thượng - Đống Đa, giải phóng kinh thành Thăng Long vào chiều mồng 5 Tết.
Đồn Ngọc Hồi
Tại làng Ngọc Hồi vào tháng 12 năm 1788, quân Thanh đã xây dựng một tiền đồn mạnh để bảo vệ nam thành Thăng Long. Sau khi đồn Hà Hồi bị hạ vào ngày 28 tháng 1 năm 1789, đồn Ngọc Hồi được tăng cường tới 30.000 quân tinh nhuệ, hỏa lực mạnh để chặn quân Tây Sơn. Đồn ngoài lũy đất còn có hàng rào chông sắt, địa lôi. Tướng chỉ huy đồn là đề đốc Hứa Thế Hanh là phó tướng của Tôn Sĩ Nghị chỉ huy, phụ tá có tả dực Thượng Duy Thăng, tiên phong Trương Triều Long.
Trên đường tiến ra Thăng Long, quân Tây Sơn dưới sự chỉ huy của Nguyễn Huệ đã tiêu diệt đồn này vào ngày 30 tháng 1 năm 1789 (mùng 5 Tết Kỷ Dậu).
Vào dịp kỷ niệm 200 năm chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa (1789 - 1989), tại đầu làng Ngọc Hồi đã xây dựng tượng đài chiến thắng Ngọc Hồi-Đống Đa với ba mũi tên hướng thẳng về phía Thăng Long, thể hiện cho cuộc tiến công thần tốc của quân sĩ Tây Sơn.
Di tích lịch sử, văn hóa
Làng Ngọc Hồi có ngôi đình hướng Tây Nam được dựng vào giữa thế kỷ 18, có kết cấu "ngoài chữ Quốc, trong chữ Vương". Trong đình còn có bản hương ước khắc trên cột đá, lập ngày 10 tháng 5 năm Cảnh Hưng thứ 5 (1744), nội dung ghi công người họ Đình trong làng đã hiến 1 mẫu 6 sào đất cho làng dựng đình, làng cắm mốc giới đình, dựng bia, đề ra quy ước người nào xâm phạm đến đất đình sẽ bị phạt.
Làng còn có chùa mang tên làng. Trong chùa còn một quả chuông đúc năm Minh Mệnh thứ 5 (1824).
Làng Yên Kiện
Làng Yên Kiện, xưa có tên là Khang Kiện, thường gọi là Chạ Yên. Chạ là từ Việt cổ, dùng để chỉ các đơn vị cư trú giống như các làng định cư của người Việt khi mới định hình thời dựng nước của các Vua Hùng. Theo các cụ già trong làng, lúc đầu, làng ở khu vực Đìa ổi, giáp làng Lạc Thị, nên hai làng có nhiều quan hệ mật thiết với nhau, gọi nhau là làng Trên, làng Dưới.Xưa kia, địa dư của làng rất rộng, có rất nhiều ruộng, cuộc sống của dân làng cũng tương đối phong lưu, làm được cả đình rất to. Nhưng rồi, do tranh chấp ruộng đất với một số làng trong vùng dẫn đến khiếu kiện kéo dài, làng không thắng kiện, phải bán cả đình, cả ruộng nên số đông dân làng phải phiêu bạt đi nơi khác và làng phải đổi tên thành Yên Kiện (bia hậu năm đầu đời Tự Đức - 1848) trong chùa đã ghi tên "Yên Kiện").
Yên Kiện nằm ở cửa ngõ phía Nam Thăng Long, có con đường cổ gọi là "đường Quai " hay "đường cái cao" từ đầu cầu Ngọc Hồi hiện nay chạy qua, lên các làng Lạc Thị- ích Vịnh, nối với đường 70 từ thị xã Hà Đông- Văn Điển ở đầu làng Quỳnh Đô, rồi lại theo đường Cầu Tiên- Quán Sét ở trên, lên Chợ Mơ vào Thăng Long. Có nhà nghiên cứu cho rằng, đường cái cao này chính là con đường Thiên Lý từ Quán Gánh về Duyên Trường, Hạ Thái - Đông Phù, lên Ngọc Hồi để vào Kinh thành Thăng Long xưa.
Đầu thế kỷ XX, Yên Kiện vẫn là một làng rất nhỏ, chỉ có 275 nhân khẩu (năm 2000 chỉ có 197 hộ với 773 nhân khẩu). Tuy vậy, làng vẫn trở thành một xã thuộc tổng Cổ Điển, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông. Tháng 1-1946, làng hợp nhất với các làng Ngọc Hồi, Lưu Phái thành xã Ngọc- Yên- Lưu. Từ đầu năm 1948, làng lần lượt nằm trong các xã Việt Hưng, Đại Hưng. Sau Cải cách ruộng đất, làng nằm trong xã Việt Hưng cùng với các làng Ngọc Hồi, Lạc Thị, Lưu Phái, thuộc huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông (năm 1961 thuộc huyện Thường Tín và làng Lưu Phái cắt về xã Ngũ Hiệp). Năm 1968, xã Việt Hưng đổi tên thành xã Ngọc Hồi. Đầu năm 1979, xã Ngọc Hồi được cắt về huyện Thanh Trì của Hà Nội.
Yên Kiện xưa rất nhiều ruộng, mỗi đinh nam từ 18 tuổi trở lên được chia 5 sào ruộng công. Nhưng ruộng ở đây đa phần là ruộng trũng, xấu, nên thu nhập từ nông nghiệp thấp và không ổn định. Để bảo đảm đời sống, nhân dân các làng làm thêm các nghề phụ, trong đó có nghề diu tôm.
Do là làng nhỏ nên làng Yên Kiện không hình thành các xóm. Đinh nam trong làng được chia thành ba giáp (giáp của họ Hoàng, giáp của họ Nguyễn Viết, giáp của họ Nguyễn Văn và họ Phạm).
Trước Cách mạng, tuy là làng nhỏ, nhưng các lệ tục về ngôi thứ, tế lễ của Yên Kiện rất phiền phức. Làng kết nghĩa với làng Lưu Phái. Người đến lượt làm cỗ đón Quan anh (ngày 10 tháng Hai) phải mổ trâu hoặc bò rất tốn kém, mặc dù được làng cấp cho 3 mẫu 3 sào ruộng. Cũng trong dịp này, có lệ làm cỗ bổn bàn: mỗi năm, mỗi mâm của những người từ 18 tuổi trở lên có một người phải đăng cai làm một mâm cỗ 3 tầng gồm thịt gà, giò chả, các chép luộc và nhiều món ăn khác để đãi người trong mâm.
Làng Yên Kiện còn ngôi đình được tu sửa lại vào năm Duy Tân thứ 3 (1909), thờ Câu Mang đại vương cùng hai vợ của ông là Phương Dung và Phương Anh. Câu Mang là vị thần sống vào cuối thời Hùng Vương, có công giúp Hùng Duệ Vương đánh lại nhà Thục, được nhiều làng vùng chiêm trũng thờ. Tại đình làng hiện còn lưu 13 đạo sắc phong cho các vị thành hoàng.
Làng có chùa Đại Bi, dựng vào năm Vĩnh Thịnh thứ 16 (1720), được tu bổ vào các năm Cảnh Hưng 28 (1767), Tự Đức nguyên niên (1848). Năm Thiệu Trị thứ hai (1842), đúc chuông.
Thông tin về Xã Duyên Thái (cũ - trước sáp nhập):
Duyên Thái là 1 xã của huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội, nước Việt Nam.
- Tổng diện tích theo k2 là: 4,04 km²
- Tổng số dân: 8603 người (1999)
- Mật độ dân số đạt 2129 người/km².
Xã Duyên Thái có làng nghề sơn mài Hạ Thái nổi tiếng trong và ngoài nước.
Duyên Thái xây dựng nông thôn mới
Thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới, sau hai năm tập trung xây dựng hạ tầng, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, bộ mặt nông thôn xã Duyên Thái (Thường Tín, Hà Nội) có nhiều thay đổi. Với đà này, xã đang phát huy nội lực, tích cực dồn điền đổi thửa, nâng cao giá trị sản xuất, phấn đấu hoàn thành xây dựng nông thôn mới.
Duyên Thái là một trong những xã lớn, đông dân, thuần nông của huyện Thường Tín. Với đặc thù ruộng đất chia vùng rõ rệt, cấp ủy Đảng và chính quyền nơi đây đã xây dựng chiến lược đưa cây, con phù hợp địa hình từng vùng vào canh tác để nâng cao giá trị đất đai. Đến nay, vùng trồng lúa và các mô hình trang trại; vùng bãi ven sông Hồng trồng rau, màu đã hình thành rõ nét và từng bước phát huy tác dụng.
Với hàng chục trang trại, vườn trại lớn nhỏ, xã Duyên Thái được đánh giá là vùng chăn nuôi lớn với 70% số hộ dân trong xã tham gia, nhà ít cũng có vài trăm con ngan, gà, vịt; nhà nhiều có đến hàng nghìn con. Những năm qua, người chăn nuôi đã mạnh dạn áp dụng khoa học - kỹ thuật đầu tư chuồng trại và phòng dịch tốt, chăn nuôi có lãi. Bên cạnh đó, xã còn có nhiều đầm hồ, diện tích mặt nước lớn (khoảng 100 ha), đang giao cho các hộ gia đình thầu khoán làm mô hình trang trại. Ông Nguyễn Văn Vinh, chủ một trang trại lớn trên địa bàn huyện cho biết, khu trang trại của gia đình ông có tổng số diện tích theo km2 hai ha đang nuôi 3.000 con vịt và hơn 100 con lợn. Mô hình VAC của anh Đinh Quang Khải, thôn Duyên Trường chăn nuôi tập trung quy mô hơn 2.000 con vịt, thả nuôi cá và trồng rau màu cũng cho thu nhập hàng trăm triệu đồng/năm.
Điều đáng mừng ở xã Duyên Thái là người dân có ý thức tự giác rất cao trong việc xây dựng, kiến thiết quê hương. Thông qua việc dồn đổi ruộng đất, xã còn vận động nhân dân hiến đất mở đường giao thông nhằm phục vụ việc vận chuyển hàng hóa và nhu cầu đi lại của bà con. Nhiều năm qua, người dân đã tự nguyện đóng góp hàng tỷ đồng xã hội hóa xây dựng hạ tầng nông thôn, đến nay, cơ bản đạt theo tiêu chí. Bên cạnh đó, xã Duyên Thái còn tích cực vận động nhân dân dồn điền đổi thửa phục vụ công tác chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi. Đến tháng 9-2013, cơ bản xã đã đạt được 12/19 tiêu chí.
Không chỉ có vậy, lãnh đạo xã cũng phối hợp huyện Thường Tín tích cực giúp đỡ và ủng hộ người dân tại xã Duyên Thái nói riêng và các xã khác trên địa bàn huyện Thường Tín nói chung cơ sở vật chất cũng như hỗ trợ sản xuất. Trong thời gian tới, các địa phương tiếp tục tổ chức mô hình sản xuất phù hợp điều kiện, thế mạnh của địa phương, gắn kết sản xuất với thị trường tiêu thụ, khuyến khích ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp, tăng giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích canh tác. Lãnh đạo xã cũng hướng dẫn bà con, hỗ trợ nông dân ứng dụng khoa học - kỹ thuật, mô hình chăn nuôi vào việc phát triển vườn trại.
Ngoài nguồn vốn hỗ trợ của thành phố cho chương trình cơ giới hóa nông nghiệp, huyện Thường Tín còn dành một nguồn kinh phí hỗ trợ cho các xã, thị trấn mua máy làm đất, máy cấy, máy gặt đập liên hợp... Theo đó, nguồn vốn hỗ trợ cơ giới hóa được cấp vào ngân sách của từng xã để tăng trách nhiệm trong việc quản lý vốn, thời gian vay vốn trong vòng 36 tháng. Để tạo đà cho các vùng sản xuất hàng hóa, huyện Thường Tín chỉ đạo các xã, thị trấn đẩy mạnh công tác dồn điền đổi thửa, đến nay, toàn huyện đã dồn đổi được 3.956 ha.
Phát triển mạnh mẽ nền nông nghiệp kết hợp với việc phát triển làng nghề truyền thống cũng góp phần đưa kinh tế của xã phát triển. Bên cạnh đó là thách thức làm sao bảo vệ bền vững các tiêu chí đã đạt được, giải quyết các vấn đề an sinh xã hội, tiếp tục nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân.
Làng nghề sơn mài Hạ Thái
Làng nghề sơn mài Hạ Thái thuộc xã Duyên Thái, huyện Thường Tín, Hà Nội có hơn 200 năm lịch sử. Bên cạnh việc kế thừa truyền thống của cha ông để lại, những người con của làng Hạ Thái bằng sự cần cù, chịu khó, sáng tạo của người thợ thủ công đã đem lại cho làng nghề từng bước phát triển mới.
Theo những nhà nghiên cứu thì làng nghề sơn mài Hạ Thái có từ thế kỉ thứ XVI. Nơi đây được biết đến bởi bàn tay khéo léo và tài hoa của người thợ thủ công đã tạo nên những sản phẩm thủ công mỹ nghệ sang trọng và đẹp mắt. Theo những người thợ thủ công cho biết, nói đến nghề sơn cổ truyền là nói đến việc sản xuất, chế tác các sản phẩm sơn quang dầu hoặc sơn mài.
Nghề sơn mài tuy ra đời muộn hơn các nghề cổ truyền khác nhưng nó đã nâng nghề sơn lên thành nghệ thuật bởi sự công phu, cầu kỳ trong quá trình sáng tạo để làm nên sản phẩm.
Xưa kia những người thợ thủ công chỉ tập trung vào sản xuất hàng sơn son thiếp vàng, chủ yếu dùng các loại sơn ta, cách pha theo kinh nghiệm cổ truyền. Loại sơn này lấy từ Phú Thọ, đặc tính của nó rất độc vì vậy trong quá trình pha chế nếu không cẩn thận sẽ bị ăn lở, sưng húp cả mặt. Chính vì vậy, công đoạn pha chế sơn có vai trò đặc biệt quan trọng, nó quyết định đến sự thành bài của sản phẩm. Giai đoạn này đòi hỏi người thợ thủ công phải hết sức khéo léo, tỉ mỉ, kiên nhẫn và phải có kinh nghiệm từ khâu nấu sơn cho đến khâu thử sơn chính.
Để ra đời một sản phẩm, người thợ phải kiên trì với phương pháp thủ công kéo dài, phải cầu kỳ, điêu luyện.. thậm chí hàng tháng trời mới hoàn thành xong một sản phẩm. Sản phẩm mang vẻ đẹp tài hoa của những người thợ, sự óng ánh của màu sắc đến lộng lẫy, kiêu sang và sự tinh tế, duyên dáng của các họa tiết đẹp một cách tuyệt vời.
Chính những điều này đã tạo nên thương hiệu sơn mài Hạ Thái mà không chỉ trong nước mà bạn bè quốc tế cũng biết đến, đem lại cho cuộc sống của người dân nơi đây những thay đổi rõ rệt.
Tuy nhiên vài năm trở lại đây do sự phát triển của kinh tế, cũng như các làng nghề truyền thống khác, khó khăn của làng nghề sơn Hạ Thái là chi phí đầu vào của sản phẩm. Nếu trước kia 1kg sơn ta có giá là 300 nghìn đồng thì hiện nay đã tăng gấp đôi. Vì vậy không ít hộ kinh doanh phải sản xuất cầm chừng, duy trì nghề là chính. Một số hộ thì đã chuyển sang làm đồ thờ cúng. Trong khi đó thị trường trong nước thì tiêu thụ chậm, còn thị trường ngoài nước thì số đơn đặt hàng cũng giảm rõ rệt thêm vào đó là yêu cầu cao về chất lượng, thời gian hoàn thành sản phẩm nhanh… đã khiến không ít hộ sản xuất gặp khó khăn.
Mặt khác các sản phẩm làm ra đòi hỏi nhiều kiểu dáng mẫu mã mới nên làng nghề đã áp dụng nhiều kỹ thuật hiện đại vào việc pha chế, thay đổi công đoạn phủ sơn, tạo cho sản phẩm độ bóng, bền và đẹp. Mỗi sản phẩm tráng từ 15-16 lớp sơn, ít cũng 10 lớp thì mới đảm bảo được độ bóng và bền của sản phẩm. Người Hạ Thái thường dùng loại sơn dầu hạt điều trộn với đất phù sa Sông Hồng theo một tỉ lệ nhất định để tạo nên những tác phẩm nghệ thuật tinh xảo. Qua bàn tay khéo léo của người thợ tài hoa vẻ đẹp thiên nhiên của đất nước ta được tái hiện một cách sinh động, hấp dẫn mà vẫn giữ được một nét duyên dáng, đằm thắm của làng quê Việt Nam. Hay những tà áo dài thướt tha trong gió… cũng được tái hiện một cách sinh động và nên thơ.
Khó khăn là vậy nhưng người làng Hạ Thái vẫn tin tưởng vào tươg lai của nghề sơn mài. Với những bàn tay khéo léo Hạ Thái nhiều năm nay đã trở thành địa chỉ có uy tín xuất khẩu đến nhiều quốc gia trên thế giới như Anh, Pháp, Mỹ, Nhật, Hàn Quốc…
Thông tin về Xã Đại Áng (cũ - trước sáp nhập):
Đại Áng là một xã nằm ở phía nam huyện Thanh Trì, Hà Nội.
Xã Đại Áng ngày nay có 4 thôn (làng): Đại Áng, Nguyệt Áng, Vĩnh Trung, Vĩnh Thịnh.
Vị trí địa lý
Địa giới hành chính xã Đại Áng như sau:
- Phía nam giáp với xã Khánh Hà (huyện Thường Tín).
- Phía tây giáp với xã Mỹ Hưng (huyện Thanh Oai) và xã Tả Thanh Oai (huyện Thanh Trì).
- Phía bắc giáp các xã Vĩnh Quỳnh và Ngọc Hồi (huyện Thanh Trì).
- Phía đông giáp với xã Ngọc Hồi (huyện Thanh Trì) và xã Nhị Khê (huyện Thường Tín).
Những đổi thay ở Đại Áng
Đại Áng là một xã nghèo của huyện Thanh Trì, Hà Nội. Từ bao đời nay, ngành nghề chủ yếu trong xã vẫn là chuyên canh cây lúa, đời sống của người dân bấp bênh, giao thông, thuỷ lợi, cơ sở hạ tầng nghèo nàn. Tuy nhiên, kể từ khi, Chương trình mục tiêu quốc gia về nông thôn mới được triển khai nơi đây thì bộ mặt của Đại Áng đã thay đổi từng ngày.
Đến Đại Áng hôm nay, điều mà ai cũng có thể cảm nhận được ngay là "sự thay da đổi thịt" của địa phương. Từ đường làng, ngõ xóm đến hệ thống điện, nước, trường học, trạm xá... Từ một xã chiêm trũng, việc đi lại khó khăn, y tế, giáo dục nghèo nàn, ngày nay Đại Áng đã có những con đường, khu phố chẳng khác gì các khu Đô thị mới ở Thủ đô. Con đường dẫn từ trung tâm huyện Thanh Trì tới xã được thảm nhựa phẳng phiu, mặt đường đủ rộng cho 2 làn xe tải qua lại. Gần trung UBND xã còn có đoạn đường đôi rộng rãi.
Không chỉ có vậy, hầu hết các đường liên thôn, giao thông nội đồng, hệ thống mương máng thuỷ lợi cũng đều được bê tông hoá rộng rãi và sạch sẽ... Theo Chủ tịch UBND xã Đại Áng Nguyễn Văn Tân, cơ sở vật chất, xã hội của Đại Áng được như ngày hôm nay phần lớn là nhờ vào sự quan tâm đầu tư của huyện và Thành phố, cũng như sự cố gắng của chính quyền và nhân dân địa phương.
Nói đến vấn đề giáo dục, ở Đại Áng cũng như bao làng quê khác, trước đây hệ thống trường lớp ở xã rất tạm bợ, cũ nát. Những năm gần đây, từ nguồn vốn hỗ trợ của Chương trình quốc gia nông thôn mới và nguồn ngân sách của thành phố Hà Nội, xã đã được đầu tư để nâng cấp trường tiểu học Đại Áng, xây mới thêm trường mầm non. Tháng 9 vừa qua, vào dịp khai giảng năm học mới, giáo viên và học sinh trường trung học cơ sở Đại Áng đã được dạy và học trong ngôi trường mới 3 tầng khang trang, hiện đại và rộng rãi. Việc cơ sở vật chất học đường được đầu tư lớn đã động viên và giúp đỡ thầy trò Trường trung học cơ sở Đại Áng có điều kiện tốt hơn trong việc đạt được những mục tiêu phấn đấu của nhà trường...
Không chỉ có sự thay đổi dáng vẻ bên ngoài, mà cái đích cuối cùng của Chương trình mục tiêu quốc gia về nông thôn mới hướng tới là thay đổi cơ cấu nông nghiệp, nâng cao mức sống cho bà con thì ở Đại Áng vấn đề này đang hiện hữu rõ nét. Từ chỗ bà con chỉ biết quanh năm bán mặt cho đất, bán lưng cho trời thì nay bên cạnh cây lúa, người dân còn biết kết hợp mô hình lúa - cá, phát triển các mô hình làm kinh tế mới như trồng nấm rơm, nuôi ốc nhồi, trồng chuối, hoa cây cảnh giống mới...
Theo Ban chỉ đạo nông thôn mới xã Đại Áng: Sau hơn hai năm triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia ở xã đã cơ bản đạt 15/19 tiêu chí, bộ mặt nông thôn của xã có nhiều thay đổi, cơ sở hạ tầng được đầu tư khang trang, sản xuất đang có xu hướng phát triển nhanh, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 7% năm 2010 xuống còn 3% năm 2012. Như vậy, đề án xây dựng nông thôn mới của xã Đại Áng đã được thực hiện tốt, cơ bản đáp ứn được mục tiêu đề ra.
Tuy nhiên, bên cạnh đó, hiện nay công cuộc xây dựng nông thôn mới của xã vẫn còn một số tồn tại như: còn 4 tiêu chí chưa đạt, nhận thức của một số cán bộ và người dân về xây dựng nông thôn mới còn hạn chế, trông chờ vào sự hỗ trợ của nhà nước; một số cán bộ kinh nghiệm năng lực còn hạn chế; cơ cấu bố trí nguồn vốn chưa hợp lý mới chỉ dồn vào đầu tư cho hạ tầng xã hội mà chưa chú trọng đến hạ tầng sản xuất v.v. Tại Hội nghị sơ kết 2 năm về xây dựng nông thôn mới, những tồn tại này cũng đã được Đảng uỷ, chính quyền xã Đại Áng đã thẳng thắn nhìn nhận và phấn đấu khắc phục trong thời gian tới.
Làng Nguyệt Áng
Nguyệt Áng (làng Nguyệt) là làng quê chiêm trũng thuộc xã Đại Áng, huyện Thanh Trì. Đây là một làng cổ, có từ thời Hùng Vương dựng nước. Làng thờ Công Ba đại vương, theo thần phả là người em thứ 3 của Vua Hùng Vương thứ nhất, có công giúp dân mở mang làng xóm.
Tại đầu đình làng, năm 1993 đã phát hiện được ngôi mộ thuyền, bên trong có bộ tuỳ táng là bộ vũ khí bằng đồng rất phong phú. Niên đại của mộ là khoảng 2400 cách thời điểm được phát hiện. Các nhà khảo cổ học đã xác định chủ nhân của một ngôi mộ là một chiến binh thuộc tầng lớp trên của xã hội đương thời.
Thời phong kiến, Nguyệt Áng nổi danh là làng khoa bảng với 11 người đỗ đại khoa, gồm 1 Trạng nguyên, 1 Thám hoa, 9 Tiến sĩ, trong đó có 5 người thuộc dòng họ Nguyễn Đình là Nguyễn Đình Trụ (đỗ năm 1656), anh ruột là Nguyễn Quốc Trinh (Trạng nguyên, 1659) và hai con là Nguyễn Đình Bách (1683), Nguyễn Đình Úc (Thám hoa, 1700) cùng cháu tằng tôn của Nguyễn Quốc Trinh là Nguyễn Đình Quỹ (1715); 3 người họ Lưu là Lưu Tiệp (1772) và em ruột (Lưu Định - 1775) cùng cháu nội là Lưu Quỹ (1835).
Làng còn có 29 người đỗ trung khoa (hương cống, cử nhân), gồm 17 người họ Nguyễn Đình, 8 người họ Lưu và 4 người họ Nguyễn Danh. Nhiều trường hợp, cha con, anh em, bố con cùng đỗ, tiêu biểu nhất là gia đình Trạng nguyên Nguyễn Quốc Trinh: 4 người con của ông đều đỗ Hương cống; còn sinh đồ, tú tài thì rất nhiều.
Trong những người đỗ đạt của làng Nguyệt, nhiều người thật sự có tài, đem hết tài năng phụng sự đất nước. Tiêu biểu nhất là Nguyễn Quốc Trinh (1625 - 1674). Năm 1667, ông cầm đầu đoàn sứ bộ nhà Lê sang đàm phán thành công với nhà Thanh cho gộp hai kỳ tiến cống (3 năm một kỳ) làm một, giảm được phần lớn sự tốn kém cho triều đình và nỗi vất vả cho các đoàn sứ bộ. Sau ông làm quan đến Bồi tụng (Phó Tể tướng), là người tin cẩn của chúa Trịnh Tạc. Tuy vậy ông là người khẳng khái, dám chỉ ra điều phải trái của chúa trước triều thần.
Người thứ hai là Nguyễn Đình Trụ (1627 - 1703). Sau khi về hưu, ông về mở trường dạy học, học trò đông tới hàng nghìn. Hơn 70 người sau đó đỗ tiến sĩ và hương cống, thành đạt trên đường hoạn lộ. Thời bấy giờ coi ông là một "công phái thầy học".
Người thứ ba là Lưu Quỹ (1811 - ?). Ông nổi tiếng ông là người thẳng thắn, dám tâu việc can ngăn vua nên bị giáng chức. Tháng 2 năm Tân Sửu (1841), Vua Thiệu Trị lên ngôi, Lưu Quỹ đã cùng Khoa đạo Nguyễn Bỉnh Đức dâng sớ khuyên Vua lưu ý đến 10 điều sách lược trị nước, trong đó, 2 điều được vua tâm đắc nhất là thận trọng trong sự ham chuộng và cẩn thận trong dùng người.
Nguyệt Áng vẫn giữ được hệ thống đình, chùa, văn chỉ. Văn chỉ do Trạng nguyên Nguyễn Quốc Trinh cùng em là Tiến sĩ Nguyễn Đình Trụ lập năm 1667, trước khi ông đi sứ. Tại đây còn 2 tầm bia đá quý (dựng năm 1667, 1876), ghi tên những người đỗ đạt của làng, biểu tượng cho truyền thống hiếu học và khoa bảng, là niềm tự hào của dân làng.
Lễ hội hàng năm được tổ chức vào 2 dịp chính: 12 tháng 2 (ngày hoá của thần) và 15 tháng 5 là ngày kỳ phúc. Lệ tháng 2 có rước bánh dày.
Làng Vĩnh Trung
Làng Vĩnh Trung (Kẻ Vanh) nay thuộc xã Đại Áng, huyện Thanh Trì, xưa thuộc tổng Vĩnh Ninh, huyện Thanh Trì, trấn Sơn Nam Thượng. Làng nằm trong một vùng trũng ở phía Nam Hà Nội nên xưa kia, đồng ruộng quanh năm ngập nước, chỉ cấy được một vụ lúa chiêm. Để phụ thêm nông nghiệp, dân làng có nghề làm nón.
Theo quan niệm về thuyết phong thuỷ của dân làng Vĩnh Trung thì sở dĩ làng có nghề làm nón là vì ở án đình làng từ xưa có 3 mô đất tượng trưng cho 3 ông công, một mô hình cái chảo, giống như một chiếc nón, một mô có hình cái giẻ lau để là lá nón. Sản phẩm chính của nghề làm nón ở đây là nón gủ, còn gọi là nón Ba Tầm, sau làm nón chóp dứa, khoảng 100 năm nay chuyển sang làm nón lá. Làm nón chủ yếu vào thời kì nông nhàn.
Kỹ thuật làm nón tuy không cầu kì nhưng chu trình để tạo ra một sản phẩm đòi hỏi sức lao động của cả gia đình trong cả ngày: trẻ nhỏ và người già bóc lá và là lá; trung niên nam giới thì chẻ tre, vót, quấn vòng, đi xa mua nguyên vật liệu; phụ nữ thì lợp và khâu nón. Vào thời kì cao điểm, người các nơi thường về đây làm thuê. Làm nón tuy giá công không cao nhưng sản phẩm là vật dụng thường ngày của mọi đối tượng thôn quê nên dễ tiêu thụ, do vậy người làm nón luôn có nguồn thu phụ trợ cho nông nghiệp. Người làng Vĩnh Trung rất tự hào với nghề làm nón của mình.
Theo quan niệm từ xưa, Vĩnh Trung là đất tứ linh. Làng có 4 gò tạo thành 4 xóm (Ngoài, Chùa, Đình, Thượng) tượng trưng cho 4 con vật quý là Long - Ly - Quy - Phượng). Từ xưa, làng là một khối thống nhất, tất cả các dòng họ trong làng đều mang tên họ Nguyễn, sinh hoạt trong 6 giáp.
Làng hiện có hai ngôi đình cùng thờ ba vị "Đại vương thần bắn" là 3 vị thần sống vào đời Hùng Vương thứ 18, có công diệt giặc cứu dân. Một ngôi gọi là Miếu đình Linh Linh hay Đình Ngoài, là đình gốc, được dựng vào năm Bảo Thái thứ 6 (1725). Một ngôi là Đình Trong được dựng vào năm Thành Thái thứ 6 (1894). Làng còn có chùa Ứng Linh. Cả 2 đình và chùa đã được công nhận là Di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia.
Lễ hội chính của làng diễn ra vào các dịp: 12- 5 là ngày sinh và ngày phong sắc của thần, tổ chức rước các vị thần từ đình Ngoài vào đình Trong rồi lại rước trả về đình Ngoài. Ngày 12-6: ngày hoá của thần, tổ chức tế lễ riêng tại các đình, bằng trâu hoặc bò của làng và lợn của các giáp. Ngày 2 tháng Chạp: ngày Khánh hạ, các đình tổ chức tế lễ riêng, có cỗ xôi thờ.
Quá trình phát triển của các làng xã Đại áng làm nảy sinh những tục lệ tốt đẹp. Xưa kia, các đôi trai gái lấy nhau phải nộp cheo cho làng bằng việc lát một ngũ đường làng dài 7,5 mét. Làng có tục kết nghĩa với làng Vĩnh Thịnh và Vĩnh Ninh gọi là "Hội kết nghĩa Tam Vĩnh"
Làng Vĩnh Thịnh
Làng Vĩnh Thịnh, đầu đời Thành Thái (1889 - 1907) vẫn mang tên Vĩnh Bảo thuộc tổng Vĩnh Ninh, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông. Làng xưa có 5 xóm: Nghè, Viềng, Giữa, xóm Chùa và xóm Sau và 5 giáp: Đông Nhất, Đông Nhì, Bắc, Nam, Đoài. Nay thuộc xã Đại Áng, huyện Thanh Trì.
Nghề nghiệp chính của dân làng là làm ruộng, song làng còn có nghề làm nón. Theo lưu truyền dân gian thì ông Phạm Quảng quê ở xã Minh Linh, huyện Kinh Môn (Hải Dương) là người truyền nghề làm nón cho làng. Việc buôn bán cũng rất phát đạt, như đi buôn bè ở Lào Cai, Yên Bái, buôn các hàng thủ công ở trong vùng như nón Chuông (Thanh Oai), cót Vạn Phúc, các dụng cụ đánh cá của làng Đan Nhiễm... mang xuống Hải Phòng, Hải Dương, Nam Định để bán. Nhiều người đã mua được cửa hàng ở các thành phố, tỉnh lỵ. Cuộc sống của những người buôn này ổn định, Nếu biết cách chi tiêu và phát triển nghề sẽ khấm khá.
Làng Vĩnh Thịnh hiện còn ngôi đình được dựng vào năm Bảo Thái thứ 6 (1725) và mới được tu sửa lại vào năm Nhâm Thân đời Bảo Đại (1932). Đình thờ Phạm Xạ - là người làng và là vị tướng của Lê Lợi. Theo truyền thuyết và thần phả, khi Lê Lợi đem quân ra Bắc diệt giặc Minh (1426), ông đã về làng Vĩnh Thịnh. Phạm Xạ khi đó là thanh niên giỏi võ, thông tinh binh pháp, được Lê Lợi tin cậy, giao cho ông tuyển mộ binh sĩ lên đường đánh giặc. 243 thanh niên làng Vĩnh Bảo đã xung phong theo Phạm Xạ gia nhập vào đội quân của Lê Lợi. Từ đó, Phạm Xạ đã tham gia chỉ huy chiến đấu gần 30 trận ở nhiều chiến trường. Đặc biệt ông đã tham gia trận Chi Lăng tháng 9 năm Đinh Mùi (1427) và tự tay chém chết tên tướng chỉ huy giặc là Liễu Thăng, được Lê Lợi phong làm Thống chế Tả tướng quân. Hiện tại miếu còn 3 bản sắc phong vào các đời Thành Thái, Duy Tân và Khải Định, 8 bức hoành phi, 19 câu đối khẳng định, ca ngợi tài đức và công lao của Phạm Xạ.
Ngoài đình, làng còn có chùa Thanh Dương, có quả chuông đúc xong ngày 6 tháng 7 năm Thiệu Trị thứ 2 (1842), có đền Hoành Sơn thờ Mẫu Liễu Hạnh.
Lễ hội hàng năm diễn ra vào các ngày: 13- 2 (ngày sinh của thần), 12- 5 (ngày Khánh hạ) và ngày 10 tháng Một (ngày hoá của thần). Trong hội tháng 2 có tục đón tiếp các quan viên hai làng kết nghĩa là Vĩnh Trung và Vĩnh Ninh gọi là "Hội kết nghĩa Tam Vĩnh.
Thông tin về Xã Khánh Hà (cũ - trước sáp nhập):
Khánh Hà là 1 xã của huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội, nước Việt Nam.
- Tổng diện tích theo k2 là: 4,81 km²
- Tổng số dân: 8.461 người (1999)
- Mật độ dân số đạt 1.759 người/km².
Tình hình kinh tế - Xã hội
Trong nhiệm kỳ qua, các mục tiêu, nhiệm vụ của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã lần thứ XIX đã cơ bản hoàn thành. Tốc độ tăng trưởng kinh tế khá, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, thương mại và dịch vụ tăng nhanh, tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm đạt 12%; thu nhập bình quân đầu người năm 2014 đạt 24,7 triệu đồng/người/năm, vượt 1,5 lần so với chỉ tiêu nhiệm kỳ trước. Trong xây dựng nông thôn mới, xã đã đạt và cơ bản đạt 19/19 tiêu chí.
Thông tin về Xã Liên Ninh (cũ - trước sáp nhập):
Liên Ninh là 1 xã của huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.
Vị trí địa lý
Xã Liên Ninh nằm ở phía nam huyện Thanh Trì. Ranh giới hành chính như sau:
- Phía đông giáp với xã Đông Mỹ, huyện Thanh Trì;
- Phía nam giáp các xã Duyên Thái và Nhị Khê, huyện Thường Tín;
- Phía tây giáp với xã Nhị Khê, huyện Thường Tín và xã Ngọc Hồi, huyện Thanh Trì;
- Phía bắc giáp các xã Ngọc Hồi và Ngũ Hiệp, huyện Thanh Trì.
Lịch sử
Trong kháng chiến chống Pháp, các làng Yên Phú, Thọ Am, Nhị Châu, Phương Nhị nhập lại thành một xã mang tên Liên Ninh. Hòa bình lập lại, xã Liên Ninh thuộc huyện Thanh Trì, đến năm 1961, xã được cắt về huyện Thường Tín, tỉnh Hà Đông (năm 1965 là tỉnh Hà Tây, năm 1975 là tỉnh Hà Sơn Bình). Đến đầu năm 1979, xã Liên Ninh được cắt về huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.
Làng Yên Phú
Yên Phú cổ xưa có tên là làng Tráng, đầu thế kỷ XIX, là một xã thuộc tổng Ninh Xá, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam Thượng (từ năm 1831 thuộc tỉnh Hà Nội, từ năm 1902 thuộc tỉnh Cầu Đơ, sau đổi thành tỉnh Hà Đông).
Yên Phú nằm ven Quốc lộ 1, có sông Kim Ngưu chảy qua nên rất tiện cho giao lưu hàng hóa. Đây là một làng cổ, hình thành từ thuở các Vua Hùng dựng nước. Theo thần phả ghi lại, vào thời Hùng Vương thứ 18, có bà Phương Dung quê ở làng Lưu Xá, phủ Nghĩa Hưng, đạo Sơn Nam lớn tuổi mà không chịu lấy chồng, chỉ mộ đạo Phật. Một ngày, bà đến làng Tráng (Yên Phú) thấy cảnh non nước hữu tình, bèn vào chùa Thanh Vân của làng xin tu. Một đêm, bà nằm mộng thấy thần nhân hiện lên báo sẽ có hai vị thủy thần xin làm con nuôi bà để đánh đuổi giặc ngoại xâm. Hôm sau bà ra bờ sông Kim Ngưu, thấy hiện lên hai quả trứng khác thường, bèn đem về, sau nở thành hai chàng trai, đầu người mình rắn, thân da đầy vảy. Bà Phương Dung đặt tên là Trung Vũ và Đài Liệu. Hai chàng lớn nhanh như thổi, chẳng mấy năm đã trở thành tráng sĩ võ nghệ cao cường.
Khi Hai Bà Trưng dấy quân khởi nghĩa, bà Phương Dung cùng hai người con nuôi chiêu mộ 25 tráng sĩ người làng Yên Phú và hàng trăm nghĩa binh ở các nơi lên Hát Môn theo Hai Bà đánh giặc Hán. Giặc tan, bà Phương Dung cùng hai người con nuôi xin trở về thăm làng Yên Phú. Về gần đến làng, trên đoạn sông Kim Ngưu, bỗng có cơn giông nổi lên, bà Phương Dung cùng hai chàng Trung Vũ và Đài Liệu cùng hóa về trời. Hai Bà nghe tin, lấy làm thương tiếc, phong cả ba người làm Phúc thần, sức cho làng Yên Phú thờ. Bà Phương Dung còn được phong làm Phật tổ chùa Thanh Vân (chùa đã được xếp hạng năm 1989). Hội làng trước đây diễn ra vào các ngày 22 tháng Năm (ngày sinh Trung Vũ và Đài Liệu), mồng 7 tháng Một (ngày hóa của các vị thần).
Dân làng Yên Phú trước đây làm ruộng kết hợp với buôn bán. Ruộng đất trong làng hầu hết là ruộng công, 6 năm chia lại một lần, vào ngày mồng 7 tháng Giêng, mỗi suất đinh được 2 sào (các cụ từ 60 tuổi trở lên được 2 sào 5 thước).
Làng Yên Phú là quê hương của nhà tư sản Bạch Thái Bưởi (1874 - 1932). Xuất thân trong một gia đình nông dân, ông học chữ Quốc ngữ, chữ Pháp, ra Hà Nội làm thư ký cho các hãng buôn, tiếp thu dần các kinh nghiệm quản lý của người Pháp, rồi đứng ra làm đại lý cung cấp gỗ cho Sở Hỏa Xa, sau đó chuyển sang kinh doanh vận tải trên các sông ở miền Bắc, ra cả biển và vươn tới cả Sài Gòn, Hông Kông. Ông còn đầu tư vào ngành khai thác mỏ lúc đó là độc quyền của tư bản Pháp và kinh doanh cả bất động sản, thành lập nhà in Đông Kinh ấn quán, xuất bản tờ báo Khai hóa nhằm góp phần mở mang dân trí, cổ động cho phong trào đi vào kinh doanh và bảo vệ quyền lợi của giới công thương dân tộc. Ông là biểu tượng cho khát vọng vươn lên làm giàu, chấn hưng nền kinh tế đất nước, đưa Việt Nam trở thành quốc gia hùng mạnh.
Xem thêm:
- Nhà đất bán tại Thành phố Hà Nội
- Bán nhà riêng tại Thành phố Hà Nội
- Bán đất tại Thành phố Hà Nội
- Bán căn hộ chung cư tại Thành phố Hà Nội
- Bán nhà mặt phố tại Thành phố Hà Nội
- Nhà đất cho thuê tại Thành phố Hà Nội
- Dự án BĐS tại Thành phố Hà Nội
- Tin BĐS tại Thành phố Hà Nội
- Nhà môi giới BĐS tại Thành phố Hà Nội
Hình ảnh về Ngọc Hồi, Hà Nội

Đường Ngọc Hồi

Làng sơn mài Hạ Thái - Xã Duyên Thái

Một con đường mới được mở rộng và thảm nhựa ở Đại Áng

Trường THCS Đại Áng

Giống chuối ngon cho năng suất cao được trồng nhiều ở Đại Áng

Đường làng xã Khánh Hà

Trường THCS Khánh Hà

Trường mầm non xã Khánh Hà

Đường làng ngõ xóm xã Liên Ninh
Dự án bất động sản tại Xã Ngọc Hồi, Thanh Trì - Hà Nội

Khu đô thị mới Cầu Bươu
Địa chỉ: Xã Tân Triều, Thanh Trì, Hà Nội

Khu nhà ở thấp tầng Hải Ngân
Địa chỉ: Đường Thanh Liệt, Xã Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội.

Chung cư Tincom Pháp Vân
Địa chỉ: Xã Tứ Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội

Eco Dream Nguyễn Xiển
Địa chỉ: Lô đất TT6, khu đô thị Tây Nam Kim Giang I, Xã Tân Triều, Thanh Trì, Hà Nội

Tecco Diamond
Địa chỉ: Xã Tứ Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội

Tabudec Plaza
Địa chỉ: Số 16 Phan Trọng Tuệ, xã Tả Thanh Oai, Thanh Trì, Hà Nội

Nhà ở xã hội NO1 Hạ Đình - UDIC Eco Tower
Địa chỉ: Ô đất N01, KĐT mới Hạ Đình, Đường Nguyễn Xiển, Xã Tân Triều, Huyện Thanh Trì, Hà Nội.

Liền kề Tổng cục 5 Tân Triều
Địa chỉ: Đường Yên Xá, Xã Tân Triều, Thanh Trì, Hà Nội

Chung cư Rosa
Địa chỉ: Ngõ 215 Đường Ngọc Hồi, Xã Tứ Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội

Chung cư Viện 103
Địa chỉ: Đường Yên Xá, Xã Tân Triều, Thanh Trì, Hà Nội
Xã Ngọc Hồi gần với xã, phường nào?
Bản đồ vị trí Ngọc Hồi
Chi nhánh / cây ATM tại Ngọc Hồi, Hà Nội
Chi nhánh/ PGD ngân hàng ở Xã Ngọc Hồi - Hà Nội
| STT | Ngân hàng | Tên CN/ PGD | Địa chỉ |
|---|---|---|---|
| 1 | MBBank | Chi nhánh Thanh Trì | Tầng 1 và tầng 1B của tòa nhà An & Huy tại địa chỉ: thửa đất số GD1-1, GD1-2, GD1-3 cụm công nghiệp Ngọc Hồi, xã Ngọc Hồi, Thanh Trì, Thành phố Hà Nội |
Cây ATM ngân hàng ở Xã Ngọc Hồi - Hà Nội
| STT | Ngân hàng | Tên cây ATM | Địa chỉ |
|---|---|---|---|
| 1 | BIDV | Ban quản lý cụm công nghiệp Ngọc Hồi | Đường Ngọc Hồi - Xã Ngọc Hồi - Thanh Trì, Thành phố Hà Nội |
| 2 | Agribank | Bệnh viện Đa khoa Nông nghiệp | Km13+500 Quốc lộ 1A, Ngọc Hồi, Huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội |
| 3 | Agribank | Km12 QL1 Xã Ngọc Hồi | Km12 QL1, Xã Ngọc Hồi, Thanh Trì, Hà Nội |
| 4 | Techcombank | Công ty Vận tải và Dịch vụ Liên Ninh | Km 15+200 quốc lộ 1A, xã Liên Ninh, Huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội |
| 5 | MBBank | Kho 708 | kho 708, xã Liên Ninh, Thanh Trì, Thành phố Hà Nội |
Ghi chú về Xã Ngọc Hồi
Thông tin về Xã Ngọc Hồi, Thành phố Hà Nội liên tục được cập nhật tại tinbds.com. Nếu bạn thấy thông tin không chính xác, vui lòng góp ý với ban quản trị website tinbds.com. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn đóng góp của bạn.
Từ khóa tìm kiếm:
Xã Ngọc Hồi, Thành phố Hà Nội: mã số, diện tích, dân số, mật độ dân số; Xã Ngọc Hồi sau sáp nhập
Từ khóa tìm kiếm:
Xã Ngọc Hồi, Thành phố Hà Nội: mã số, diện tích, dân số, mật độ dân số; Xã Ngọc Hồi sau sáp nhập
Xem trên Google Maps