Tỉnh thành VN > Đồng Nai

Tỉnh Đồng Nai

Thông tin tổng quan về Đồng Nai, Việt Nam

Tỉnh Đồng Nai thuộc vùng miền Đông Nam Bộ Việt Nam. Đồng Nai được xem là tỉnh cửa ngõ đi vào vùng vùng kinh tế phát triển và năng động nhất cả nước Vùng kinh tế Đông Nam Bộ.
Diện tích Đồng Nai 5.903,940 km2,chiếm 25,5% diện tích tự nhiên của vùng Đông Nam Bộ chiếm 1,76% diện tích tự nhiên cả nước. Dân số toàn tỉnh năm 2010 là 2.559.673 người và mật độ dân số: 386,511 người/km2. Đồng Nai có 11 đơn vị hành chính trực thuộc gồm: Thành phố Biên Hòa; Thị xã Long Khánh và 9 huyện: Long Thành; Trảng Bom;Nhơn Trạch;Cẩm Mỹ; Vĩnh Cửu; Thống Nhất; Định Quán; Xuân Lộc; Tân Phú.

Vị trí địa lý

Đồng Nai là tỉnh thuộc Miền Đông Nam Bộ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Phía Bắc giáp tỉnh Lâm ĐồngBình Dương. Phía Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng TàuThành phố Hồ Chí Minh,Phía Đông giáp tỉnh Bình Thuận. Nhờ có các quốc lộ 20, quốc lộ 1A, tuyến đường sắt Bắc - Nam; quốc lộ 51; giúp giao thông tỉnh Đồng Nai trở nên thuận tiện với nhiều tuyến đường huyết mạch quốc gia đi qua như gần sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất, gần cảng Sài Gòn.

Điều kiện tự nhiên

Địa hình tỉnh Đồng Nai là vùng đồng bằng và bình nguyên với những núi sót rải rác, có xu hướng thấp dần theo hướng bắc nam. Địa hình tương đối bằng phẳng, có 82% đất có độ dốc <80,10% đất có độ dốc <150,8% đất có độ dốc >150.
Đồng Nai có hai mùa tương phản nhau là mùa khô và mùa mưa.Khí hậu Đồng Nai là khí hậu nhiệt đới gió mùa.
Rừng Đồng Nai có đặc trưng cơ bản của rừng nhiệt đới, có tài nguyên động, thực vật phong phú đa dạng, tiêu biểu là vườn quốc gia Nam Cát Tiên. Tài nguyên khoáng sản Đồng Nai khá phong phú về chủng loại như kim loại quý, đá quý, kim loại màu, nguyên liệu gốm sứ,phụ gia xi măng, vật liệu xây dựng, than bùn, nước khoáng và nước nóng ...

Lịch sử

Vùng đất Đồng Nai cuối thế kỷ XVI vẫn còn hoang dã, chưa được khai phá, người dân bản địa gồm các dân tộc Stiêng, Mạ, Kơ ho, M'nông, Chơ ro và một vài sóc người Khơ me sinh sống. Dân ít, sống thưa thớt, kỹ thuật sản xuất thô sơ, trình độ xã hội còn thấp.
Lúc bấy giờ nước Việt Nam xảy ra giao tranh giữa vua Lê - Chúa Trịnh và Chúa Nguyễn. Đây là cuộc phân tranh tạo ra tình trạng cát cứ trong lịch sử Việt Nam. Lịch sử vẫn gọi là thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh. Cuộc sống của người dân lâm vào đói khổ lầm than.Làm sóng di dân ồ ạt đầu tiên từ Bắc vào Nam được dấy lên. Trong đó có làn sóng di dân của miền Thuận Quảng vào Đồng Nai tìm đất sinh sống và tái lập nghiệp. Người Việt đã cùng với người bản địa ra sức khai phá đất đai để sản xuất nông nghiệp. Dần dần những cánh đồng lúa và hoa màu tươi tốt đã thay thế cho rừng rậm hoang vu.
Nhà Minh ở Trung Quốc sụp đổ năm 1679, vì không khuất phục nhà Thanh nên Tổng binh Trần Thượng Xuyên trấn thủ các châu Cao, Lôi, Liêm đã đem binh lính thân tín và gia quyến đến xin thuần phục chúa Nguyễn ở Thuận Hóa. Chúa Nguyễn Phúc Chu đã cho họ và cho vào mở mang,khai khẩn, vùng đất Đông Phố (Cù lao Phố ngày nay).
Chúa Nguyễn sai Thống suất Chưởng cơ Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược vùng đất Đồng Nai năm Mậu Dần 1698, đặt tên vùng đất mới thành phủ Gia Định. Nguyễn Hữu Cảnh chia làm 2 huyện: huyện Tân Bình (Sài Gòn) dựng dinh Phiên Trấn; huyện Phước Long (Đồng Nai) dựng dinh Trấn Biên. Nguyễn Hữu Cảnh còn chiêu mộ những người có vật lực từ các vùng khác vào lập nghiệp và phát triển kinh tế, cho lập bộ đinh, bộ điền. Người Hoa đầu tiên định cư ở Bến Gỗ theo Trần Thượng Xuyên nhưng thấy Cù lao Phố có vị trí thuận lợi cho việc kinh doanh buôn bán, họ đã quyết định di chuyển đến đây sinh sống. Từ đó Cù lao Phố phát triển ngày càng mạnh và đã nhanh chóng trở thành trung tâm giao dịch quốc tế và thương mại của cả vùng Gia Định.
Dinh Trấn Biên được vua Gia Long đổi thành trấn Biên Hòa năm 1802, nhưng vẫn thuộc phủ Gia Định. Năm 1808, trấn Biên Hòa thuộc thành Gia Định, đặt Phước Long thành phủ, đặt ra các tổng Phước An, Phước Chính, Bình An, Long Thành làm huyện. Trấn Biên