Tỉnh thành VN > Hà Nội > Xã Nam Phù

Xã Nam Phù, Thành phố Hà Nội sau sáp nhập

Thông tin tổng quan về Xã Nam Phù sau sáp nhập

Xếp hạng Xã Nam Phù
  • Diện tích phường/xã/đặc khu thuộc Hà Nội: #81
  • Diện tích phường/xã/đk toàn quốc: #3138
  • Dân số phường/xã/đk thuộc Hà Nội: #110
  • Dân số phường/xã/đk toàn quốc: #785
  • Mật độ dân số phường/xã/đk thuộc Hà Nội: #53
  • Mật độ dân số phường/xã/đk toàn quốc: #254
Xã Nam Phù thành lập theo nghị quyết Số: 1656/NQ-UBTVQH15; Ngày: 16/06/2025
Thông tin cơ bản:
Thông tin về Phường Vạn Phúc (cũ - trước sáp nhập):
Phường Vạn Phúc nằm ở phía Đông Bắc quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.
- Diện tích: 1,43 km²
- Tổng số dân: 8.641 người (2003)
- Mật độ dân số đạt 6.043 người/km².

Vị trí địa lý

- Phía Đông Bắc giáp thôn Ngọc Trục, xã Đại Mỗ (huyện Từ Liêm)
- Phía Tây giáp phường La Khê, Quang Trung
- Phía Đông và phía Nam giáp dòng sông Nhuệ uốn khúc bao bọc hai hướng.

Lịch sử

Không chỉ là địa phương nổi danh với nghề dệt lụa truyền thống, Vạn Phúc còn là “làng Đỏ” - làng cách mạng. Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, nơi đây là an toàn khu của Trung ương Đảng và xứ uỷ Bắc Kỳ, đã nuôi dấu và là nơi hoạt động của nhiều đồng chí lãnh tụ của Đảng như: Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Nguyễn Văn Cừ và nhiều đồng chí khác. Đặc biệt, tháng 12/1946 Bác Hồ đã về ở và làm việc 16 ngày đêm; tại đây Người đã chủ trì hội nghị Trung ương mở rộng quyết định phát động cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trên cả nước, vạch ra đường lối cơ bản của cuộc kháng chiến và viết “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”. Với những đóng góp to lớn trong hai cuộc kháng chiến và trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, Vạn Phúc được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và 03 Huân chương lao động Hạng nhất, hạng Nhì, hạng Ba.

Kinh tế

Tự hào với truyền thống cách mạng, những năm gần đây, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ và chính quyền địa phương, tình hình phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội và việc đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại Vạn Phúc luôn ổn định. Thực hiện đề án 02 của Quận ủy, phường đã xây dựng kế hoạch khôi phục, phát triển nghề truyền thống gắn với phát triển thương mại, du lịch, dịch vụ. Ngoài việc duy trì trên 150 gian hàng giới thiệu sản phẩm, phường đã mở rộng thêm các tuyến phố và mô hình kinh doanh dịch vụ khác như phố Lụa, phố Ẩm thực, chợ cây sinh vật cảnh, kinh doanh may mặc, cho thuê trọ … Khai thác phát triển các công trình văn hóa, tôn giáo, thúc đẩy phát triển kinh tế làng nghề. Sản lượng lụa sản xuất hàng năm tăng cao, doanh thu ước đạt 35 tỉ đồng/năm.
Công tác đầu tư xây dựng cơ bản được quan tâm, các công trình điện, đường, trường, trạm và các công trình tôn giáo, tín ngưỡng được tôn tạo, xây dựng đã mang lại một diện mạo mới cho địa phương. Sự nghiệp giáo dục đào tạo, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” và các vấn đề an sinh xã hội luôn được phường chăm lo, phát triển.
Ngày nay, trên con đường hội nhập quốc tế, Vạn Phúc đang được thành phố Hà Nội và quận Hà Đông định hướng xây dựng thành làng nghề - làng du lịch tiêu biểu của quận. Trong một tương lai không xa, với sự nỗ lực phấn đấu, lòng quyết tâm của Đảng bộ và nhân dân địa phương, phát huy truyền thống anh hùng và tinh thần sáng tạo, yêu nghề, nhất định làng nghề Vạn Phúc sẽ tiếp tục giữ vững và nâng cao vị thế thương hiệu của mình. Đây sẽ thực sự là điểm đến ấn tượng của du khách trong nước cũng như quốc tế.

Làng nghề truyền thống

Làng lụa Vạn Phúc
Từ bao đời nay, Vạn Phúc được biết đến là một làng cổ, làng nghề truyền thống nổi tiếng trong và ngoài nước. Theo thần tích từ thời Lê do Lễ bộ Thượng Thư Đông Các Đại học sĩ Nguyễn Bính biên soạn năm 1572, Thành Hoàng làng Vạn Phúc là bà Ả Lã hiệu là Thị Nương (còn có tài liệu nói rằng bà là Lã Thị Nga nên vua phong là Nga Hoàng Đại Vương). Bà là người có công truyền dạy nghề trồng dâu, nuôi tằm, dệt lụa cho nhân dân Vạn Phúc. Nghề dệt đến nay đã có bề dầy lịch sử trên 1.000 năm với những sản phẩm tơ lụa không chỉ nổi tiếng trong nước mà còn được nhiều nước trên thế giới biết đến. Từ những khung cửi dệt thủ công ngày xưa, Vạn Phúc ngày nay đã cơ khí hoá bằng hệ thống máy dệt, các sản phẩm ngày càng đa dạng. Chất lượng ngày càng nâng cao đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Những sản phẩm tinh tế như lụa vân, sa tanh … vẫn được những nghệ nhân trong làng dày công nghiên cứu để giữ gìn và truyền lại cho con cháu. Lễ hội truyền thống hàng năm được nhân dân tổ chức trang trọng nhằm tưởng nhớ công ơn của người đã dạy dân chúng nghề dệt lụa, giáo dục con cháu truyền thống tốt đẹp của quê hương, tình đoàn kết thương yêu nhau, tình họ hàng, làng mạc. Những ngày đình đám là những dịp họ hàng, làng xóm gần gũi, chan hoà tình cảm gắn bó nhau hơn.
Phường / Xã / Thị trấn cùng tên Vạn Phúc:

Thông tin về Xã Liên Ninh (cũ - trước sáp nhập):
Liên Ninh là 1 xã của huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.
Vị trí địa lý
Xã Liên Ninh nằm ở phía nam huyện Thanh Trì. Ranh giới hành chính như sau:
- Phía đông giáp với xã Đông Mỹ, huyện Thanh Trì;
- Phía nam giáp các xã Duyên Thái và Nhị Khê, huyện Thường Tín;
- Phía tây giáp với xã Nhị Khê, huyện Thường Tín và xã Ngọc Hồi, huyện Thanh Trì;
- Phía bắc giáp các xã Ngọc Hồi và Ngũ Hiệp, huyện Thanh Trì.
Lịch sử
Trong kháng chiến chống Pháp, các làng Yên Phú, Thọ Am, Nhị Châu, Phương Nhị nhập lại thành một xã mang tên Liên Ninh. Hòa bình lập lại, xã Liên Ninh thuộc huyện Thanh Trì, đến năm 1961, xã được cắt về huyện Thường Tín, tỉnh Hà Đông (năm 1965 là tỉnh Hà Tây, năm 1975 là tỉnh Hà Sơn Bình). Đến đầu năm 1979, xã Liên Ninh được cắt về huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.
Làng Yên Phú
Yên Phú cổ xưa có tên là làng Tráng, đầu thế kỷ XIX, là một xã thuộc tổng Ninh Xá, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam Thượng (từ năm 1831 thuộc tỉnh Hà Nội, từ năm 1902 thuộc tỉnh Cầu Đơ, sau đổi thành tỉnh Hà Đông).
Yên Phú nằm ven Quốc lộ 1, có sông Kim Ngưu chảy qua nên rất tiện cho giao lưu hàng hóa. Đây là một làng cổ, hình thành từ thuở các Vua Hùng dựng nước. Theo thần phả ghi lại, vào thời Hùng Vương thứ 18, có bà Phương Dung quê ở làng Lưu Xá, phủ Nghĩa Hưng, đạo Sơn Nam lớn tuổi mà không chịu lấy chồng, chỉ mộ đạo Phật. Một ngày, bà đến làng Tráng (Yên Phú) thấy cảnh non nước hữu tình, bèn vào chùa Thanh Vân của làng xin tu. Một đêm, bà nằm mộng thấy thần nhân hiện lên báo sẽ có hai vị thủy thần xin làm con nuôi bà để đánh đuổi giặc ngoại xâm. Hôm sau bà ra bờ sông Kim Ngưu, thấy hiện lên hai quả trứng khác thường, bèn đem về, sau nở thành hai chàng trai, đầu người mình rắn, thân da đầy vảy. Bà Phương Dung đặt tên là Trung Vũ và Đài Liệu. Hai chàng lớn nhanh như thổi, chẳng mấy năm đã trở thành tráng sĩ võ nghệ cao cường.
Khi Hai Bà Trưng dấy quân khởi nghĩa, bà Phương Dung cùng hai người con nuôi chiêu mộ 25 tráng sĩ người làng Yên Phú và hàng trăm nghĩa binh ở các nơi lên Hát Môn theo Hai Bà đánh giặc Hán. Giặc tan, bà Phương Dung cùng hai người con nuôi xin trở về thăm làng Yên Phú. Về gần đến làng, trên đoạn sông Kim Ngưu, bỗng có cơn giông nổi lên, bà Phương Dung cùng hai chàng Trung Vũ và Đài Liệu cùng hóa về trời. Hai Bà nghe tin, lấy làm thương tiếc, phong cả ba người làm Phúc thần, sức cho làng Yên Phú thờ. Bà Phương Dung còn được phong làm Phật tổ chùa Thanh Vân (chùa đã được xếp hạng năm 1989). Hội làng trước đây diễn ra vào các ngày 22 tháng Năm (ngày sinh Trung Vũ và Đài Liệu), mồng 7 tháng Một (ngày hóa của các vị thần).
Dân làng Yên Phú trước đây làm ruộng kết hợp với buôn bán. Ruộng đất trong làng hầu hết là ruộng công, 6 năm chia lại một lần, vào ngày mồng 7 tháng Giêng, mỗi suất đinh được 2 sào (các cụ từ 60 tuổi trở lên được 2 sào 5 thước).
Làng Yên Phú là quê hương của nhà tư sản Bạch Thái Bưởi (1874 - 1932). Xuất thân trong một gia đình nông dân, ông học chữ Quốc ngữ, chữ Pháp, ra Hà Nội làm thư ký cho các hãng buôn, tiếp thu dần các kinh nghiệm quản lý của người Pháp, rồi đứng ra làm đại lý cung cấp gỗ cho Sở Hỏa Xa, sau đó chuyển sang kinh doanh vận tải trên các sông ở miền Bắc, ra cả biển và vươn tới cả Sài Gòn, Hông Kông. Ông còn đầu tư vào ngành khai thác mỏ lúc đó là độc quyền của tư bản Pháp và kinh doanh cả bất động sản, thành lập nhà in Đông Kinh ấn quán, xuất bản tờ báo Khai hóa nhằm góp phần mở mang dân trí, cổ động cho phong trào đi vào kinh doanh và bảo vệ quyền lợi của giới công thương dân tộc. Ông là biểu tượng cho khát vọng vươn lên làm giàu, chấn hưng nền kinh tế đất nước, đưa Việt Nam trở thành quốc gia hùng mạnh.
Thông tin về Xã Ninh Sở (cũ - trước sáp nhập):
Ninh Sở là 1 xã của huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội, nước Việt Nam.
- Tổng diện tích theo k2 là: 4,93 km²
- Tổng số dân: 7647 người (1999)
- Mật độ dân số đạt 1551 người/km².
Kinh tế
Nhiệm kỳ qua, xã Ninh Sở đã đạt được những kết quả toàn diện trên mọi mặt lĩnh vực kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, xây dựng Đảng. Kinh tế của xã tiếp tục có những bước tăng trưởng khá. Tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm đạt 14,58%, thu nhập bình quân đầu người đat 18,9 triệu đồng/người/năm. Bên cạnh đó, cấp ủy, chính quyền địa phương chú trọng, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các tổ chức, đoàn thể chính trị tích cực tuyên truyền, vận động để cán bộ, đảng viên và nhân dân trong xã hưởng ứng và chung sức xây dựng NTM. Sau 4 năm thực hiện, đến nay, Ninh Sở đã đạt 15/19 tiêu chí NTM.
Trong nhiệm kỳ 2015-2020, Đảng bộ xã phấn đấu, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm 12% trở lên, giá trị sản xuất trên 1ha canh tác nông nghiệp đạt 210 triệu đồng/ha; thu nhập bình quân đầu người đạt 32 triệu/người/năm; 100% đường giao thông thôn xóm và trục chính nội đồng được cứng hóa; giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 2%.
Thông tin về Xã Đông Mỹ (cũ - trước sáp nhập):
Đông Mỹ là 1 xã của huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội, nước Việt Nam.
- Tổng diện tích theo k2 là: 2,75 km²
- Tổng số dân: 5839 người (1999)
- Mật độ dân số đạt 2123 người/km².
Xã Đông Mỹ xưa là căn cứ chiếm đóng của tướng Nguyễn Siêu trong thời loạn 12 sứ quân.
Đông Mỹ xây dựng nông thôn mới
Mặc dù "tấc đất, tấc vàng" nhưng người dân xã Đông Mỹ, huyện Thanh Trì đã tình nguyện hiến hàng chục mét vuông cho việc làm đường, xây dựng nông thôn mới (NTM). Phong trào hiến đất làm đường, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi và xây dựng đời sống văn hóa ở Đông Mỹ góp phần phát triển kinh tế nơi đây.
Đến Đông Mỹ hôm nay, nhiều người ngỡ ngàng bởi sự "thay da đổi thịt" nhanh chóng của vùng đất này. Những cách đồng trũng, kém hiệu quả một thời đã được quy hoạch thành trên 100ha nuôi trồng thủy sản, đem lại giá trị từ 200 triệu đồng/ha trở lên; còn lại 20ha trồng hoa cây cảnh.
Hiện toàn xã chỉ còn 5ha trồng lúa nhưng đến cuối năm 2012 sẽ chuyển sang làm rau màu. Đời sống của người dân ngày một nâng cao, với thu nhập gần 23 triệu đồng/người/năm.Nói về phong trào hiến đất làm đường, Phó Chủ tịch UBND Lê Mạnh Chiến cho biết: Từ những năm 1996, Đông Mỹ đã có hơn 200 hộ dân thôn 4 và thôn 5 hiến đất mở con đường ven đê dài 1km.
Mới đây, trong chương trình xây dựng NTM, xã có chủ trương mở rộng thêm 9 tuyến đường làng ngõ xóm. Hiện, tuyến đường của thôn 1 đã hoàn thành, với chiều dài 425m. Xã đã vận động nhân dân hiến được 116m2, dịch chuyển 297m tường rào, 37m đường nhà cấp 4.
Mặc dù, giá đất ở đây cao nhưng người dân rất vui vì được góp một phần nhỏ của mình vào xây dựng quê hương".Đi đôi với chỉnh trang, quy hoạch nông thôn, mỗi người dân đều chung tay xây dựng và tìm cho mình một không gian sinh hoạt cộng đồng để cuộc sống thêm ý nghĩa.
Trên địa bàn có nhiều câu lạc bộ (CLB) thơ, bóng bàn, dưỡng sinh. Nhiều CLB đã có từ hơn 20 năm nay và ngày càng phát triển như CLB thơ văn Đông Mỹ, thu hút hàng trăm hội viên người cao tuổi tham gia. Có điều kiện về kinh tế, người dân trong xã còn chăm lo đến việc học hành của con em họ. Chủ tịch UBND xã Lê Tuấn Minh cho biết, mỗi năm xã có 20 - 25 cháu đỗ vào các trường đại học chính quy.
Để khuyến khích học sinh lập thành tích trong học tập, mỗi năm xã vận động các gia đình đóng góp tổng cộng 30 triệu đồng vào Quỹ khuyến học. Đồng thời, xã cũng trích một phần từ Quỹ khuyến học của nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười để thưởng cho những học sinh giỏi, các thầy cô có thành tích xuất sắc trong dạy học. Đặc biệt, xã còn 2 Quỹ khuyến học của gia đình liệt sĩ Phạm Thụy Hùng và gia đình lão thành cách mạng Phạm Phượng, mỗi năm dành vài chục triệu đồng mua sách vở, dụng cụ học tập cho học sinh nghèo vượt khó, học sinh giỏi… trên địa bàn.
Phường / Xã / Thị trấn cùng tên Đông Mỹ:

Thông tin về Xã Duyên Thái (cũ - trước sáp nhập):
Duyên Thái là 1 xã của huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội, nước Việt Nam.
- Tổng diện tích theo k2 là: 4,04 km²
- Tổng số dân: 8603 người (1999)
- Mật độ dân số đạt 2129 người/km².
Xã Duyên Thái có làng nghề sơn mài Hạ Thái nổi tiếng trong và ngoài nước.
Duyên Thái xây dựng nông thôn mới
Thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới, sau hai năm tập trung xây dựng hạ tầng, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, bộ mặt nông thôn xã Duyên Thái (Thường Tín, Hà Nội) có nhiều thay đổi. Với đà này, xã đang phát huy nội lực, tích cực dồn điền đổi thửa, nâng cao giá trị sản xuất, phấn đấu hoàn thành xây dựng nông thôn mới.
Duyên Thái là một trong những xã lớn, đông dân, thuần nông của huyện Thường Tín. Với đặc thù ruộng đất chia vùng rõ rệt, cấp ủy Đảng và chính quyền nơi đây đã xây dựng chiến lược đưa cây, con phù hợp địa hình từng vùng vào canh tác để nâng cao giá trị đất đai. Đến nay, vùng trồng lúa và các mô hình trang trại; vùng bãi ven sông Hồng trồng rau, màu đã hình thành rõ nét và từng bước phát huy tác dụng.
Với hàng chục trang trại, vườn trại lớn nhỏ, xã Duyên Thái được đánh giá là vùng chăn nuôi lớn với 70% số hộ dân trong xã tham gia, nhà ít cũng có vài trăm con ngan, gà, vịt; nhà nhiều có đến hàng nghìn con. Những năm qua, người chăn nuôi đã mạnh dạn áp dụng khoa học - kỹ thuật đầu tư chuồng trại và phòng dịch tốt, chăn nuôi có lãi. Bên cạnh đó, xã còn có nhiều đầm hồ, diện tích mặt nước lớn (khoảng 100 ha), đang giao cho các hộ gia đình thầu khoán làm mô hình trang trại. Ông Nguyễn Văn Vinh, chủ một trang trại lớn trên địa bàn huyện cho biết, khu trang trại của gia đình ông có tổng số diện tích theo km2 hai ha đang nuôi 3.000 con vịt và hơn 100 con lợn. Mô hình VAC của anh Đinh Quang Khải, thôn Duyên Trường chăn nuôi tập trung quy mô hơn 2.000 con vịt, thả nuôi cá và trồng rau màu cũng cho thu nhập hàng trăm triệu đồng/năm.
Điều đáng mừng ở xã Duyên Thái là người dân có ý thức tự giác rất cao trong việc xây dựng, kiến thiết quê hương. Thông qua việc dồn đổi ruộng đất, xã còn vận động nhân dân hiến đất mở đường giao thông nhằm phục vụ việc vận chuyển hàng hóa và nhu cầu đi lại của bà con. Nhiều năm qua, người dân đã tự nguyện đóng góp hàng tỷ đồng xã hội hóa xây dựng hạ tầng nông thôn, đến nay, cơ bản đạt theo tiêu chí. Bên cạnh đó, xã Duyên Thái còn tích cực vận động nhân dân dồn điền đổi thửa phục vụ công tác chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi. Đến tháng 9-2013, cơ bản xã đã đạt được 12/19 tiêu chí.
Không chỉ có vậy, lãnh đạo xã cũng phối hợp huyện Thường Tín tích cực giúp đỡ và ủng hộ người dân tại xã Duyên Thái nói riêng và các xã khác trên địa bàn huyện Thường Tín nói chung cơ sở vật chất cũng như hỗ trợ sản xuất. Trong thời gian tới, các địa phương tiếp tục tổ chức mô hình sản xuất phù hợp điều kiện, thế mạnh của địa phương, gắn kết sản xuất với thị trường tiêu thụ, khuyến khích ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp, tăng giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích canh tác. Lãnh đạo xã cũng hướng dẫn bà con, hỗ trợ nông dân ứng dụng khoa học - kỹ thuật, mô hình chăn nuôi vào việc phát triển vườn trại.
Ngoài nguồn vốn hỗ trợ của thành phố cho chương trình cơ giới hóa nông nghiệp, huyện Thường Tín còn dành một nguồn kinh phí hỗ trợ cho các xã, thị trấn mua máy làm đất, máy cấy, máy gặt đập liên hợp... Theo đó, nguồn vốn hỗ trợ cơ giới hóa được cấp vào ngân sách của từng xã để tăng trách nhiệm trong việc quản lý vốn, thời gian vay vốn trong vòng 36 tháng. Để tạo đà cho các vùng sản xuất hàng hóa, huyện Thường Tín chỉ đạo các xã, thị trấn đẩy mạnh công tác dồn điền đổi thửa, đến nay, toàn huyện đã dồn đổi được 3.956 ha.
Phát triển mạnh mẽ nền nông nghiệp kết hợp với việc phát triển làng nghề truyền thống cũng góp phần đưa kinh tế của xã phát triển. Bên cạnh đó là thách thức làm sao bảo vệ bền vững các tiêu chí đã đạt được, giải quyết các vấn đề an sinh xã hội, tiếp tục nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân.
Làng nghề sơn mài Hạ Thái
Làng nghề sơn mài Hạ Thái thuộc xã Duyên Thái, huyện Thường Tín, Hà Nội có hơn 200 năm lịch sử. Bên cạnh việc kế thừa truyền thống của cha ông để lại, những người con của làng Hạ Thái bằng sự cần cù, chịu khó, sáng tạo của người thợ thủ công đã đem lại cho làng nghề từng bước phát triển mới.
Theo những nhà nghiên cứu thì làng nghề sơn mài Hạ Thái có từ thế kỉ thứ XVI. Nơi đây được biết đến bởi bàn tay khéo léo và tài hoa của người thợ thủ công đã tạo nên những sản phẩm thủ công mỹ nghệ sang trọng và đẹp mắt. Theo những người thợ thủ công cho biết, nói đến nghề sơn cổ truyền là nói đến việc sản xuất, chế tác các sản phẩm sơn quang dầu hoặc sơn mài.
Nghề sơn mài tuy ra đời muộn hơn các nghề cổ truyền khác nhưng nó đã nâng nghề sơn lên thành nghệ thuật bởi sự công phu, cầu kỳ trong quá trình sáng tạo để làm nên sản phẩm.
Xưa kia những người thợ thủ công chỉ tập trung vào sản xuất hàng sơn son thiếp vàng, chủ yếu dùng các loại sơn ta, cách pha theo kinh nghiệm cổ truyền. Loại sơn này lấy từ Phú Thọ, đặc tính của nó rất độc vì vậy trong quá trình pha chế nếu không cẩn thận sẽ bị ăn lở, sưng húp cả mặt. Chính vì vậy, công đoạn pha chế sơn có vai trò đặc biệt quan trọng, nó quyết định đến sự thành bài của sản phẩm. Giai đoạn này đòi hỏi người thợ thủ công phải hết sức khéo léo, tỉ mỉ, kiên nhẫn và phải có kinh nghiệm từ khâu nấu sơn cho đến khâu thử sơn chính.
Để ra đời một sản phẩm, người thợ phải kiên trì với phương pháp thủ công kéo dài, phải cầu kỳ, điêu luyện.. thậm chí hàng tháng trời mới hoàn thành xong một sản phẩm. Sản phẩm mang vẻ đẹp tài hoa của những người thợ, sự óng ánh của màu sắc đến lộng lẫy, kiêu sang và sự tinh tế, duyên dáng của các họa tiết đẹp một cách tuyệt vời.
Chính những điều này đã tạo nên thương hiệu sơn mài Hạ Thái mà không chỉ trong nước mà bạn bè quốc tế cũng biết đến, đem lại cho cuộc sống của người dân nơi đây những thay đổi rõ rệt.
Tuy nhiên vài năm trở lại đây do sự phát triển của kinh tế, cũng như các làng nghề truyền thống khác, khó khăn của làng nghề sơn Hạ Thái là chi phí đầu vào của sản phẩm. Nếu trước kia 1kg sơn ta có giá là 300 nghìn đồng thì hiện nay đã tăng gấp đôi. Vì vậy không ít hộ kinh doanh phải sản xuất cầm chừng, duy trì nghề là chính. Một số hộ thì đã chuyển sang làm đồ thờ cúng. Trong khi đó thị trường trong nước thì tiêu thụ chậm, còn thị trường ngoài nước thì số đơn đặt hàng cũng giảm rõ rệt thêm vào đó là yêu cầu cao về chất lượng, thời gian hoàn thành sản phẩm nhanh… đã khiến không ít hộ sản xuất gặp khó khăn.
Mặt khác các sản phẩm làm ra đòi hỏi nhiều kiểu dáng mẫu mã mới nên làng nghề đã áp dụng nhiều kỹ thuật hiện đại vào việc pha chế, thay đổi công đoạn phủ sơn, tạo cho sản phẩm độ bóng, bền và đẹp. Mỗi sản phẩm tráng từ 15-16 lớp sơn, ít cũng 10 lớp thì mới đảm bảo được độ bóng và bền của sản phẩm. Người Hạ Thái thường dùng loại sơn dầu hạt điều trộn với đất phù sa Sông Hồng theo một tỉ lệ nhất định để tạo nên những tác phẩm nghệ thuật tinh xảo. Qua bàn tay khéo léo của người thợ tài hoa vẻ đẹp thiên nhiên của đất nước ta được tái hiện một cách sinh động, hấp dẫn mà vẫn giữ được một nét duyên dáng, đằm thắm của làng quê Việt Nam. Hay những tà áo dài thướt tha trong gió… cũng được tái hiện một cách sinh động và nên thơ.
Khó khăn là vậy nhưng người làng Hạ Thái vẫn tin tưởng vào tươg lai của nghề sơn mài. Với những bàn tay khéo léo Hạ Thái nhiều năm nay đã trở thành địa chỉ có uy tín xuất khẩu đến nhiều quốc gia trên thế giới như Anh, Pháp, Mỹ, Nhật, Hàn Quốc…
Thông tin về Xã Ngũ Hiệp (cũ - trước sáp nhập):
Ngũ Hiệp là 1 xã của huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội, nước Việt Nam.
Xã Ngũ Hiệp gồm các làng Tương Chúc, Đông Trạch, Tự Khoát, Việt Yên, Lưu Phái.
Đầu thế kỷ 19, làng Tương Chúc và làng Tự Khoát là các xã thuộc tổng Nam Phù Liệt, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam Thượng (từ tháng Mười năm Tân Mão đời Vua Minh Mạng - 1831 trở đi là tỉnh Hà Nội, từ 1904 là tỉnh Hà Đông). Đầu năm 1946, sau cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân cấp xã, các làng: Tương Trúc, Đông Trạch, Tự Khoát, Việt Yên, Lưu Phái hợp nhất thành xã Ngũ Hiệp.
Vị trí địa lý
Xã Ngũ Hiệp nằm ở trung tâm huyện Thanh Trì. Ranh giới hành chính như sau:
- Phía đông giáp các xã Yên MỹDuyên Hà
- Phía đông nam giáp với xã Đông Mỹ
- Phía nam giáp các xã Liên NinhNgọc Hồi
- Phía tây giáp với xã Vĩnh Quỳnh
- Phía bắc giáp với xã Tứ Hiệp.
Làng Tương Chúc
Làng Tương Chúc đầu thế kỷ 19 là 1 xã của tổng Nam Phù Liệt, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam Thượng (từ tháng Mười năm Tân Mão đời Vua Minh Mạng - 1831 trở đi là tỉnh Hà Nội, từ 1904 là tỉnh Hà Đông). Đầu năm 1946, làng nhập với các làng: Đông Trạch, Tự Khoát, Việt Yên thành xã Ngũ Hiệp.
Tương Chúc nằm trên con đường Thiên lý cổ. Xưa kia, con đường này từ phía Nam ra, đến Bằng Vồi - Quán Gánh men theo phía Đông sông Tô Lịch, qua các làng Duyên Trường- Hạ Thái (nay là xã Duyên Thái, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây), vào Đông Phù (xã Đông Mỹ), qua Tương Chúc, ra làng Tự Khoát, Lưu Phái rồi nhập với Quốc lộ 1 hiện nay ở phía trên cầu Ngọc Hồi, lên Văn Điển - Cầu Tiên - Quán Sét (Đồng Quan), vào Hoàng Mai (Chợ Mơ) rồi vào Kinh thành Thăng Long. Vào đầu thời Gia Long 1802 - 1819 (có ý kiến cho rằng, thời Pháp thuộc, khi làm đường xe lửa Bắc Nam) mới nắn lại đường Thiên lý từ Hà Hồi (Thường Tín) lên, tức đoạn đường Quốc lộ I A qua Ngọc Hồi lên cầu Văn Điển hiện nay. Làng lại có sông Tô Lịch chảy qua. Do vị trí giao thông thuận lợi này mà dân làng còn phát đạt về buôn bán. Tại đầu làng Tương Chúc có một chợ lớn trong vùng, có khán thị (quản chợ) trông coi. Vị thế "nhất cận thị, nhị cận giang, tam cận lộ" làm cho kinh tế của làng tương đối khá giả. Ngoài buôn bán, dân làng vẫn làm ruộng và có thêm nghề làm khóa.
Tương Chúc là làng nhỏ. Năm 1928 làng có 666 người. Trai đinh của làng trước đây sinh hoạt trong 3 giáp.
Trước Cách mạng Tháng Tám, làng Tương Trúc còn 53 mẫu 7 sào ruộng công để chia cấp cho các đối tượng sửa lễ và 6 mẫu đem đấu giá lấy tiền dùng vào các việc công. Ngoài ra, khúc sông Tô Lịch chảy qua làng, tiếp giáp hai làng Tự Khoát và Đông Phù, hàng năm chia cho 3 giáp khai thác nguồn tôm cá.
Làng Tương Chúc ở bên cạnh làng Tự Khoát, có nhiều yếu tố tương đồng về địa lý, lịch sử. Trước đây, giữa địa phận hai làng còn một khoảnh ruộng công, mỗi làng được nhận một nửa rộng 2 sào 5 miếng (mỗi miếng là 30 mét vuông) để giao cho giáp đương cai của mỗi làng cùng lo việc thờ thần (hai làng cùng làm lễ cơm mới vào tháng Tám, tế thần chung vào 29 tháng Mười). Trước đây, hai làng cùng tổ chức đội phiên tuần để bảo vệ đồng điền, mỗi làng 6 người. Làng có ngôi chùa Hưng Phúc, chung với làng Tự Khoát, thờ Nhị vị sư tổ.
Ngoài ra, làng còn có chùa Thiên Phúc, phủ thờ Thủy Tinh công chúa. Hội làng diễn ra trong các ngày 8,9,10 tháng Hai.
Làng Tương Chúc và Tự Khoát mỗi 4 năm 1 lần, tổ chức Hội Hàng Tổng, cùng một số Xã tại địa phương rước hội, tế lễ tạo nên không khí rất trang nghiêm.
Làng Tự Khoát
Làng Tự Khoát đầu thế kỷ 19 là một xã thuộc tổng Nam Phù Liệt, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam Thượng (từ năm 1831 trở đi là tỉnh Hà Nội, từ 1904 là tỉnh Hà Đông). Đầu năm 1946, làng nhập với các làng: Đông Trạch, Tương Trúc, Việt Yên thành xã Ngũ Hiệp. Năm 1926 làng có 875 người.
Tự Khoát ở cách cống Ngọc Hồi vài trăm mét về phía Đông, nằm trên con đường Thiên lý cổ. Do vị trí giao thông thuận lợi, dân làng còn phát đạt về buôn bán, ngoài làm ruộng và các nghề đan thúng mủng.
Làng Tự Khoát trước đây có ngôi đình thờ Cao Sơn - một tỳ tướng của Đinh Bộ Lĩnh, bị tử trận trong khi đánh nhau với Sứ quân Nguyễn Siêu (năm 967), nay đình đã bị hoang phế. Làng có ngôi chùa Hưng Phúc nằm sát Quốc lộ I, cách cống Ngọc Hồi 200 mét. Tương truyền, vào cuối thời Lý, Vua Lý Huệ Tông (1211 - 1224) mắc bệnh nặng mà chưa có con nối ngôi, đất nước loạn lạc, dân chúng cơ hàn. Có hai vị công chúa xin về đất làng Tự Khoát, lấy đỉnh Trúc Lĩnh (núi có nhiều cây trúc) của làng làm nơi nghỉ. Hai Bà thấy dân chúng đói khổ, thiếu ruộng tốt để cày cấy, liền xuất hết tiền bạc của mình để mua thóc gạo cứu giúp những người nghèo rồi chiêu tập họ khai hoang để có ruộng cày cấy. Thấy làng có cả một núi trúc bạt ngàn, hai Bà tổ chức cho dân làng đẵn trúc để đan lát các loại thúng mủng, nong nia để dùng và để bán, từ đó dân làng có nghề đan lát. Hai Bà còn cho dựng am Đông Phù để sớm hôm đèn nhang cầu mong cho dân làng được no đủ, hạnh phúc.
Được hai năm, nhà Vua bắt hai bà về triều để gả cho quan lang ở biên giới, song hai bà nhất quyết không nghe lời. Không thuyết phục được, nhà vua cho đốt am Đông Phù nhằm triệt chỗ nương thân của hai bà. Song hai bà lại được dân làng Tự Khoát đốn về, dựng lại am trên núi Trúc, rồi mở mang am thành chùa, nên gọi là chùa Tự Khoát (chùa mở rộng), trở thành một ngôi chùa lớn trong vùng. Đáng tiếc qua thời gian, chiến tranh, nhiều công trình của chùa đã bị hủy hoại, song nhìn từ ngoài vào, thì đây vẫn là một ngôi chùa lớn và đẹp. Trước Tam quan của chùa có một doi đất cao, rộng đến hơn 2000 mét vuông, gọi là Gò Đình Yến. Tục truyền, từ khi hai vị công chúa rời bỏ Kinh thành về đây tu hành, vào những dịp Tết và Thanh minh, Vua Lý thường về thăm con và vãn cảnh chùa, cho mổ lợn, bò để tế thần linh tại gò này, sau đó ban yến cho triều thần. Về sau, cho dựng một ngôi miếu để thờ thần linh trời đất.
Làng Tự Khoát in đậm dấu tích của lịch sử đất nước trong trận đánh đồn Ngọc Hồi rạng sáng mồng 5 Tết Kỷ Dậu (1789). Đây là cửa ải trọng yếu để xiết chặt vòng vây quân Thanh ở đồn Ngọc Hồi và chặn đường tháo lui của chúng vào thành Thăng Long. Vì thế, tại đây đã diễn ra cuộc giằng co quyết liệt giữa quân Tây Sơn và quân Thanh mà một số địa danh còn ghi lại, như Đình Găng (nơi quân lính hai bên giành nhau từng tấc đất), Ao Đường (máu giặc chảy thành ao), Mả Ngô (xác giặc chất cao thành đống)
Phường / Xã / Thị trấn cùng tên Ngũ Hiệp:

Thông tin về Xã Yên Mỹ (cũ - trước sáp nhập):
Yên Mỹ là 1 xã của huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.
Ngày nay, làng Yên Mỹ khá trù phú với việc trồng các loại rau, hoa cung cấp cho nội thành và xuất khẩu.
Vị trí địa lý
Xã Yên Mỹ nằm ở phía đông bắc huyện Thanh Trì. Ranh giới hành chính như sau:
- Phía đông giáp với xã Văn Đức, huyện Gia Lâm (ranh giới tự nhiên là sông Hồng);
- Phía nam giáp với xã Duyên Hà, huyện Thanh Trì;
- Phía tây nam giáp với xã Ngũ Hiệp, huyện Thanh Trì;
- Phía tây giáp với xã Tứ Hiệp, huyện Thanh Trì;
- Phía bắc giáp phường Yên Sở, quận Hoàng Mai.
Lịch sử
Làng Yên Mỹ xưa có tên là Tiểu Lan Châu. Đây là vùng bãi rộng lớn ven sông Hồng, hình thành từ lâu đời (Châu = công châu thổ, tức đất bãi bồi), cư dân lập thành ba làng là Đại Lan Châu, Trung Lan Châu và Tiểu Lan Châu.
Khoảng giữa thế kỷ 19, sông Hồng đổi dòng, làm cho làng Trung Lan Châu chuyển sang bên kia sông, nên làng này đổi thành Đại Quan (có nghĩa là ở cửa sông Hồng; nay thuộc xã Văn Đức, huyện Gia Lâm); Đại Lan Châu đổi thành Đại Lan nay thuộc xã Duyên Hà); làng Tiểu Lan Châu, không rõ từ bao giờ đổi thanh An Mỹ (hay Yên Mỹ). Muộn nhất là đến đầu thế kỷ 19, tên Yên Mỹ đã xuất hiện.
Xưa cũng như nay, Yên Mỹ luôn là một xã độc lập. Đầu thế kỷ 19, xã thuộc tổng Vạn Phúc, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam Thượng (từ năm 1831 thuộc tỉnh Hà Nội, từ 1902 thuộc tỉnh Cầu Đơ, năm 1904 đổi làm tỉnh Hà Đông.
Từ tháng 5 - 1961, cùng với các làng xã khác trong huyện Thanh Trì, làng được chuyển về thành phố Hà Nội.
Trước Cách mạng Tháng Tám 1945, Yên Mỹ là một làng lớn, với 2855 nhân khẩu (năm 1928), gần gấp 3 lần dân số của một làng bình thường ở châu thổ Bắc Bộ.
Yên Mỹ ở Đông Nam Kinh thành Thăng Long, ngoài đê sông Hồng, được phù sa bồi đắp nên cây cỏ tốt tươi, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp, nhất là chăn nuôi trâu bò. Trâu bò ở đây được chăm sóc chu đáo nên béo tốt, da bóng nhẫy, bán bao giờ cũng được giá, có thể liệt vào những sản vật nổi tiếng của Thanh Trì "Lúa làng Ngâu, trâu Yên Mỹ" (Ngâu tức làng Yên Ngưu, xã Tam Hiệp).
Danh nhân
Làng Yên Mỹ có ông Phạm Quốc Trinh đỗ Tiến sĩ khoa Mậu Thìn niên hiệu Thái Hòa đời Vua Lê Nhân Tông (năm 1448), làm quan đến chức Thị lang.
Yên Mỹ còn là nơi sinh sống một thời gian trước khi ra làm quan của Đặng Huấn (? - 1583) - vị Quận công quê ở Lương Xá (huyện Chương Mỹ, Hà Nội), làm quan nhà Mạc, sau quy thuận nhà Lê, giúp dập nhà Lê đánh tan nhà Mạc. Sau khi thành đạt, ông để người con thứ hai ở lại làng Yên Mỹ, phát triển thành một chi nhánh họ Đặng tại đây. Hiện ở làng vẫn còn nhà thờ, lăng mộ của họ này.
Di tích lịch sử, văn hóa
Làng Yên Mỹ trước đây có ngôi đình được dựng rất muộn, bắt đầu dựng từ năm 1919, mãi đến năm 1924 mới hoàn thành. Việc làng xây đình muộn có nhiều nguyên nhân. Có thuyết giải thích là do làng nghèo, vì vậy có lời nguyền của các làng bên: "Bao giờ Yên Mỹ làm đình, chạch đẻ ngọn giáo thì mình lấy ta!" Chắc chắn đây chỉ là sự đặt lời của dân gian. Nguyên nhân chính của việc dựng đình muộn này là do làng ở ven sông, chịu tác động của nước lũ sông Hồng, gây ngập lụt. Chắc hẳn, xưa kia làng từng có đình, nhưng bị nước lụt làm trôi lở nên việc dựng lại rất khó khăn. Ngoài Cao Sơn đại vương và một vị thần họ Phạm có quan hệ họ hàng với Tiến sĩ Phạm Quốc Trinh.
Làng Yên Mỹ còn có ngôi đền Mẫu thờ Lý Chiêu Hoàng - vị vua cuối cùng của triều Lý. Trong đền có tượng bà Chiêu Hoàng đúc bằng đồng vào năm 1937.
Làng có ngôi chùa Thanh Lam, không có gì nổi bật.
Phường / Xã / Thị trấn cùng tên Yên Mỹ:

Thông tin về Xã Duyên Hà (cũ - trước sáp nhập):
Duyên Hà là 1 xã của huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.
Vị trí địa lý
Xã Duyên Hà nằm ở phía đông huyện Thanh Trì. Ranh giới hành chính như sau:
- Phía đông giáp với xã Vạn Phúc, huyện Thanh Trì;
- Phía nam giáp với xã Đông Mỹ, huyện Thanh Trì;
- Phía tây giáp với xã Ngũ Hiệp, huyện Thanh Trì;
- Phía bắc giáp với xã Yên Mỹ, huyện Thanh Trì và xã Văn Đức, huyện Gia Lâm (ranh giới tự nhiên là sông Hồng).
Làng Đại Lan
Làng Đại Lan cùng với các làng Văn Uyên và Tranh Khúc hợp thành xã Duyên Hà huyện Thanh Trì. Cuối thời Lê, đầu thời Nguyễn làng cũng là một xã thuộc tổng Vạn Phúc huyện Thanh Trì, đến giữa thế kỉ 19 đổi thành xã Đại Quan Châu thuộc tổng Đại Quan, huyện Văn Giang, tỉnh Bắc Ninh. Năm 1907, Đại Lan nhập lại về tổng Vạn Phúc huyện Thanh Trì.
Nằm ven sông Hồng, có đất đai màu mỡ, nên Đại Lan sớm có con người đến lập làng xóm. Việc thờ ba vị nhân thần là Lĩnh Hồ, Minh Chiêu và Chà Mục có từ thời Hùng Vương, là một trong những chứng cứ.
Đại Lan sớm có truyền thống học hành. Vào thời Lê Sơ (1427 - 1526), làng đã có 2 vị đỗ đại khoa:
- Nguyễn Như Đổ (1424 - 1505, có tài liệu chép ông thọ 103 tuổi): tên tự là Mạnh An, hiệu Khiêm Trai, đỗ Hội nguyên, Bảng nhãn khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo đời Lê Thái Tông (1442) khi mới 18 tuổi, là một trong 2 vị đại khoa trẻ nhất trong 321 vị khoa bảng của Thăng Long - Hà Nội. Ông làm quan đến Lại bộ Thượng thư, kiêm Tế tửu Quốc Tử Giám, hàm Thiếu bảo, được về trí sĩ. Điều đặc biệt nhất, ông đã ba lần được cử đi sứ sang nhà Minh (vào các năm 1443, 1450 và 1459). Ông còn để lại 6 bài thơ chép trong Toàn Việt thi lục. Ông là niềm tự hào của dòng họ Nguyễn ở Đại Lan vì tạo lập truyền thống hiếu học cho con cháu cũng như cho dân làng Đại Lan và vùng lân cận.
- Nguyễn Như Huân (1422 - ?), là cháu ruột Nguyễn Như Đổ, đỗ Tiến sĩ khoa Mậu Dần, niên hiệu Diên Ninh, đời Lê Nhân Tông (1458), làm quan đến Tham chính.
Tuy nhiên, sự phát đạt về mặt học hành của người Đại Lan chỉ tồn tại trong một thời gian rất ngắn. Nguyên nhân là do sông Hồng luôn luôn đổi dòng, đất bãi bồi bị lở dần nên một phần cư dân phải di sang bên đối ngạn để sống. Vì thế, làng luôn phải chuyển dịch đơn vị hành chính từ huyện Văn Giang sang huyện Thanh Trì. Ngoài việc cả cộng đồng phải rời làng còn có những cuộc chuyển cư lẻ tẻ của các gia đình, dòng họ, đến những làng quê khác để có cuộc sống ổn định hơn. Dòng họ của Nguyễn Như Đổ về sau cũng chuyển đến làng Tử Dương thuộc huyện Thường Tín ngày nay. Việc luôn phải đối phó với nước lụt làm cho cuộc sống không ổn định, ảnh hưởng lớn đến sự học. Đình chùa của làng chịu đựng nhiều tác động của lũ lụt và chiến tranh nên hiện rất sơ sài.
Tuy vậy, truyền thống hiếu học và tôn sư trọng đạo của Đại Lan vẫn luôn được đề cao. Làng có Hội Tư văn và Văn chỉ (hiện không còn) để thờ các vị tiên hiền, khuyến học cho dân làng. Đặc biệt làng còn thờ Nguyễn Như Đổ là á Thánh ở đình. Tại đình còn một hương án chạm khắc rất công phu, khắc cả hai khổ thơ về đạo học và nêu gương danh tích của vị khai khoa Nguyễn Như Đổ.
Hàng năm có lễ rước nước từ sông về đình để tế vào 23 tháng Chạp. Hội làng tổ chức vào ngày 6 tháng Giêng, ngoài tế lễ còn có vật và đánh gậy, phản ánh sự tích các vị thần của làng theo nhà Hùng trừ giặc.

Hình ảnh về Nam Phù, Hà Nội

Hình ảnh Nam Phù, Hà Nội
Cổng làng Vạn Phúc
Hình ảnh Nam Phù, Hà Nội
Đường làng ngõ xóm xã Liên Ninh
Hình ảnh Nam Phù, Hà Nội
Làng nghề mây tre đan ở xã Ninh Sở
Hình ảnh Nam Phù, Hà Nội
Trường mầm non A Đông Mỹ
Hình ảnh Nam Phù, Hà Nội
Làng sơn mài Hạ Thái - Xã Duyên Thái
Hình ảnh Nam Phù, Hà Nội
Đường làng ngõ xóm xã Ngũ Hiệp
Hình ảnh Nam Phù, Hà Nội
Trường tiểu học Ngũ Hiệp
Hình ảnh Nam Phù, Hà Nội
Trường THCS Yên Mỹ.
Hình ảnh Nam Phù, Hà Nội
Làng quê Yên Mỹ hôm nay.
Hình ảnh Nam Phù, Hà Nội
Gói bánh chưng ở làng Tranh Khúc - xã Duyên Hà

Dự án bất động sản tại Xã Nam Phù, Hà Đông - Hà Nội

Ảnh dự án Khu nhà ở Phú Mỹ
Khu nhà ở Phú Mỹ
Địa chỉ: Số 6 đường Ngô Quyền, phường Vạn Phúc, Hà Đông, Hà Nội.
Ảnh dự án Palmy Diamond Vạn Phúc
Palmy Diamond Vạn Phúc
Địa chỉ: Phố Vạn Phúc, Phường Vạn Phúc, Quận Hà Đông, Hà Nội.
Ảnh dự án Tòa nhà hỗn hợp Sông Đà - Hà Đông
Tòa nhà hỗn hợp Sông Đà - Hà Đông
Địa chỉ: Đường Nguyễn Trãi, Phường Văn Quán, Hà Đông, Hà Nội
Ảnh dự án Hà Đông Park View
Hà Đông Park View
Địa chỉ: Lô 12, KĐT mới Văn Phú, đường Lê Trọng Tấn, phường Phú La, Hà Đông, Hà Nội
Ảnh dự án La Casta Văn Phú
La Casta Văn Phú
Địa chỉ: Phố Lê Trọng Tấn, Hà Đông, Hà Nội
Ảnh dự án The Sparks
The Sparks
Địa chỉ: Khu đô thị Dương Nội, Phường Dương Nội, Hà Đông, Hà Nội
Ảnh dự án Unimax Twin Tower
Unimax Twin Tower
Địa chỉ: 210 Quang Trung, Phường Phúc La, Hà Đông, Hà Nội
Ảnh dự án Hà Nội Time Towers
Hà Nội Time Towers
Địa chỉ: Đường Tây Sơn, Phường Yết Kiêu, Hà Đông, Hà Nội
Ảnh dự án PCC1 Complex
PCC1 Complex
Địa chỉ: Đường Ba La, Phường Phú Lương, Hà Đông, Hà Nội
Ảnh dự án HPC Landmark 105
HPC Landmark 105
Địa chỉ: Phường La Khê, Hà Đông, Hà Nội

Xã Nam Phù gần với xã, phường nào?

Bản đồ vị trí Nam Phù

Các trường THPT, CĐ, ĐH tại Xã Nam Phù - Hà Nội

STTLoạiTên trườngĐịa chỉ
1THPTTt GDTX Đông MỹXã Đông Mỹ-Thanh Trì
2THPTTHPT Ngọc HồiXã Ngũ Hiệp, huyện Thanh Trì
3Đại họcTrung Cấp Nghiệp Vụ Công Đoàn Giao Thông Vận TảiĐông Mỹ, Thanh Trì, Hà Nội
4Đại họcTrung Cấp Nghiệp Vụ Công Đoàn Giao Thông Vận TảiĐông Mỹ, Thanh Trì, Hà Nội. Tel: (04) 3856.9524

Chi nhánh / cây ATM tại Nam Phù, Hà Nội

Chi nhánh/ PGD ngân hàng ở Xã Nam Phù - Hà Nội

STTNgân hàngTên CN/ PGDĐịa chỉ
1SHBChi nhánh Quỹ tiết kiệm Vạn Phúc - Hà ĐôngKhối 7, Vạn Phúc, Quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội
2VietcombankChi nhánh Tây Hà NộiLô Hh-03 Đường Tố Hữu, Phường Vạn Phúc, Hà Đông, Hà Nội
3VietinBankChi nhánh Đô ThànhSố 10 Ngô Quyền, Phường Vạn Phúc, Hà Đông, Thành phố Hà Nội
4ACBPDG Vạn PhúcCUTM06-04, CUTM06-05 và CUTM06-06 Dự án làng nghề dệt lụa Vạn Phúc, Phường Vạn Phúc, Quận Hà Đông, TP Hà Nội
5TPBankPGD Vạn PhúcKhu nhà ở Ngân Hà Vạn Phúc, phường Vạn Phúc, quận Hà Đông, TP. Hà Nội
6KienlongbankPhòng giao dịch Hà Đông13-14-15 Khu Thương Mại 24H, Tố Hữu, Phường Vạn Phúc, Hà Đông, Thành phố Hà Nội
7SacombankPhòng giao dịch Vạn PhúcDự Án Làng Nghề Dệt Lụa Vạn Phúc, Đường Tố Hữu, Phường Vạn Phúc, Quận Hà Đông, Tp. Hà Nội
8VietinBankPhòng giao dịch Vạn PhúcCăn 14,15 dãy B1 Shophouse Vạn Phúc, đường Tố Hữu, Phường Vạn Phúc, Quận Hà Đông, TP Hà Nội
9MSBPhòng giao dịch Vạn PhúcTầng 1, Tòa nhà GoldSilk, 430 Cầu Am, Phường Vạn Phúc, Hà Đông, Thành phố Hà Nội
10AgribankPhòng giao dịch Đông MỹĐường 70B, Thôn 1, Xã Đông Mỹ, Thanh Trì, Hà Nội
11LPBankPhòng giao dịch Bưu điện Ngọc HồiNgã ba Trường cấp 3 Ngọc Hồi, phố Lưu Phái, thôn Tự Khoát, xã Ngũ Hiệp, Huyện Thanh Trì, Hà Nội
12LienVietPostBankPhòng giao dịch Bưu điện Ngọc HồiNgã ba Trường cấp 3 Ngọc Hồi, phố Lưu Phái, thôn Tự Khoát, xã Ngũ Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội
13LPBankPhòng giao dịch Bưu điện Đông MỹXã Ngũ Hiệp, Huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội
14LienVietPostBankPhòng giao dịch Bưu điện Đông MỹXã Ngũ Hiệp, Thanh Trì, Thành phố Hà Nội
15VietinBankPhòng giao dịch Nam Hà NộiĐường Ngọc Hồi, Thôn Lưu Phái, Xã Ngũ Hiệp, Thanh Trì, Thành phố Hà Nội
16AgribankPhòng giao dịch Ngũ HiệpPhố Lưu Phái, Xã Ngũ Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội
17BIDVPhòng giao dịch Tecco GardenSố 2, đường Quang Lai, xã Ngũ Hiệp, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.

Cây ATM ngân hàng ở Xã Nam Phù - Hà Nội

STTNgân hàngTên cây ATMĐịa chỉ
1VietinBankLàng lụa Vạn Phúc,Làng lụa Vạn Phúc, Vạn Phúc, Quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội
2VietinBankLô A7 đường 430 P Vạn PhúcLô A7 đường 430, P Vạn Phúc, Quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội
3VietcombankLô HH03 Đường Tố HữuLô HH03 Đường Tố Hữu - Phường Vạn Phúc - Hà Đông, Thành phố Hà Nội
4ACBPDG Vạn PhúcCUTM06-04, CUTM06-05 và CUTM06-06 Dự án làng nghề dệt lụa Vạn Phúc, Phường Vạn Phúc, Quận Hà Đông, TP Hà Nội
5VietcombankPGD Tố HữuLô A4 khu Đấu Giá, đường Tố Hữu, Vạn Phúc, Quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội
6TPBankPGD Vạn PhúcKhu nhà ở Ngân Hà Vạn Phúc, phường Vạn Phúc, quận Hà Đông, TP. Hà Nội
7SacombankPhòng giao dịch Vạn PhúcDự Án Làng Nghề Dệt Lụa Vạn Phúc, Đường Tố Hữu, Phường Vạn Phúc, Quận Hà Đông, Tp. Hà Nội
8MBBankSiêu thị TopcareSiêu thị Vinatex Hà Đông, Đường Cầu Am, Vạn Phúc, Hà Đông, Hà Nội
9VietinBankTrụ sở chi nhánh NHCT Sông NhuệSố 10 Ngô Quyền, P Vạn Phúc, Quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội
10MSBVạn PhúcTầng 1 Tòa nhà Gold Silk Complex, 430 Cầu Am, Phường Vạn Phúc, Quận Hà Đông, Hà Nội, 8h-22h
11MBBankVinatex Hà ĐôngĐường 430-Vạn Phúc- Quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội
12TechcombankCông ty Vận tải và Dịch vụ Liên NinhKm 15+200 quốc lộ 1A, xã Liên Ninh, Huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội
13MBBankKho 708kho 708, xã Liên Ninh, Thanh Trì, Thành phố Hà Nội
14MBBankBTL Đặc CôngBộ Tư Lệnh Đặc Công - Thôn 2, xã Đông Mỹ, Thanh Trì, Thành phố Hà Nội
15AgribankĐông MỹĐường 70B, Thôn 1, Xã Đông Mỹ, Thanh Trì, Hà Nội
16BIDVPhòng giao dịch Tecco GardenSố 2, đường Quang Lai, xã Ngũ Hiệp, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.

Ghi chú về Xã Nam Phù

Thông tin về Xã Nam Phù, Thành phố Hà Nội liên tục được cập nhật tại tinbds.com. Nếu bạn thấy thông tin không chính xác, vui lòng góp ý với ban quản trị website tinbds.com. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn đóng góp của bạn.
Từ khóa tìm kiếm:
Xã Nam Phù, Thành phố Hà Nội: mã số, diện tích, dân số, mật độ dân số; Xã Nam Phù sau sáp nhập