Xã Hiệp Cường, Tỉnh Hưng Yên sau sáp nhập
Mục lục:
Thông tin tổng quan về Xã Hiệp Cường sau sáp nhập
Xếp hạng Xã Hiệp Cường
Xã Hiệp Cường thành lập theo nghị quyết Số: 1666/NQ-UBTVQH15; Ngày: 16/06/2025Thông tin cơ bản:
- Mã số: 12322
- Trung tâm hành chính: đang cập nhật
- Diện tích: 28.37 km²
- Dân số: 32,364 người
- Mật độ dân số: 1,155 người/km²
- Sáp nhập từ: Xã Song Mai, Xã Hùng An, Xã Hiệp Cường, Xã Ngọc Thanh
Thông tin về Xã Song Mai (cũ - trước sáp nhập):
Song Mai là một xã nằm phía tây huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên, nước Việt Nam.
Các số điện thoại quan trọng
Bưu điện Kim Động: (0221)3811135.
UBND Tỉnh Hưng Yên: (0221) 3863823 - 3862750
BVĐK Huyện Kim Động: +84 321 3862 406
Taxi Mai Linh Hưng Yên: 03213.52.52.52
Khách sạn Phố Hiến Hưng Yên: 84 321 3862 909
NH nông nghiệp và phát triển nông thôn: 063 3828364
Phòng vé hàng không VN: 063 3825413
Địa lý thời tiết
Diện Tích: 7,34 km²Tổng số dân: 6481 người năm 1999.
Tọa độ: 20°44′31″B 106°02′14″Đ
Xã Song Mai nằm gần trung tâm của huyện Kim Động. Phía bắc tiếp giáp với xã Chính Nghĩa, Phạm Ngũ Lão. Phía đông giáp thị trấn Lương Bằng. Phía nam giáp với xã Ngọc Thanh. Phía tây giáp với xã Đồng Thanh và Hùng An.
Các thôn: Phán Thủy, Mai Xá, Thanh Xuân, Mai Viên, Hoàng Độc, Miêu Nha.
Mang đặc điểm của khí hậu đồng bằng sông Hồng: nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh hơn nhiều so với điều kiện trung bình vĩ tuyến; thời kỳ đầu của mùa đông tương đối khô, nửa cuối thì ẩm ướt, mùa hạ nóng ẩm, nhiều mưa, khí hậu biến động mạnh.
Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,20c. Mùa hè nhiệt độ trung bình 30 – 320c; cao nhất vào tháng 6 và 7 nhiệt độ có khi lên tới 380c. Mùa đông nhiệt độ trung bình 17-220c; thấp nhất vào tháng 1 và 2 nhiệt độ 8-100c. Tổng tích ôn trung bình hàng năm là 85030c.
Độ ẩm không khí trung bình hàng năm xấp xỉ 85%, cao nhất 90,6%, thấp nhất 60%. Tháng 3 là tháng ẩm nhất và tháng 11 là tháng khô nhất.
Tổng lượng mưa trung bình hàng năm 1700mm. Lượng mưa trung bình tháng trong năm là 175mm. Mưa tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 9. Mưa thường xảy ra trùng với nước lũ sông Hồng lên cao, gây úng lụt ảnh hưởng xấu đến sản xuất và sinh hoạt của dân cư. Nguồn nước sông Hồng là nguồn nước chủ yếu cung cấp cho việc tưới và bồi đắp một phần phù sa cho đồng ruộng.
Với khí hậu – thủy văn như trên là điều kiện thuận lợi cho sinh trưởng của nhiều loại cây trồng tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nền nông nghiệp đa dạng, phong phú. Song phải có những biện pháp phòng chống hạn úng, đồng thời phải xác định cơ cấu mùa vụ cây trồng hợp lý nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế cao.
lịch sử
Vào những thế kỷ đầu của công nguyên, Kim Động thuộc quận Giao Chỉ, thời nhà Đinh có tên là Đằng Châu, thời nhà Trần có tên là Kim Động cho đến nay.Ngày 24 tháng 2 năm 1979, theo Quyết định số 70/CP của Hội đồng Chính phủ, huyện Kim Độngsáp nhập với huyện Ân Thi thành huyện Kim Thi, thuộc tỉnh Hải Hưng. Sau 17 năm hợp nhất, đến tháng 4 năm 1996 thực hiện Nghị định số 05/NĐ-CP ngày 27/01/1996 của Thủ tướng Chính phủ, huyện Kim Thi tách ra thành hai huyện Kim Động và Ân Thi như trước.
Kim Động nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, được phù sa sông Hồng bồi đắp. Trải qua hàng vạn năm, bãi bồi lấn dần ra biển, những người dân Việt cổ men theo những dòng sông, săn bắt thủy sản, phát triển nghề trồng lúa nước để sinh sống. Cùng với sự phát triển kinh tế nông nghiệp, những làng mạc định cư đầu tiên của người Kim Động được dựng lên ven sông Hồng. Trong cuộc đấu tranh với thiên nhiên và trong lao động để tồn tại, những người dân với sức lao động cần cù, chịu khó đã đoàn kết, giúp đỡ nhau khai phá những bãi đồng lầy, dựng làng, lập ấp, gieo lúa, trồng màu để sinh sống. Nhiều làng mạc trong huyện hiện nay vẫn còn chữ Xá (nghĩa là cộng đồng cư dân có chung nguồn gốc): Động Xá, Vĩnh Xá, Vũ Xá, Mai Xá,… Đến nay, nhiều nơi trong huyện vẫn còn tên cổ của làng để ghi công lao những người đầu tiên có công khai lập nên, hoặc ghi nhớ những sự tích của làng, như: làng Nở (Duyên Yên), làng Tè (Tạ Xá), làng Phận (Dưỡng Phú)…
Nhân dân Kim Động mang trong mình dòng máu Lạc Rồng, có truyền thống cần cù trong lao động, dũng cảm trong đấu tranh với thiên nhiên, không chịu khuất phục trước bất cứ kẻ thù nào, đã cùng đồng bào cả nước đánh đuổi hết thù trong giặc ngoài; ngày nay nhân dân Kim Động đang hăng say phấn đấu xây dựng một Kim Động giàu mạnh, phồn thịnh, phấn đấu trở thành huyện tiêu biểu của tỉnh về mọi mặt...
Ngày 23 tháng 9 năm 2003, xã Bảo Khê được sáp nhập vào thị xã Hưng Yên.
Từ ngày 6 tháng 8 năm 2013, các xã Hùng Cường, Phú Cường được sáp nhập vào thành phố Hưng Yên.
Ngoài ra có một xã nữa là Đằng Châu không rõ cách Đồng Thanh mấy cây số. Xã Đằng Châu là nơi Phạm Bạch Hổ đóng giữ.
Kinh tế
Ngày 2.12, tại huyện Kim Động, Trung tâm Ứng dụng tiến bộ Khoa học và Công nghệ (Sở Khoa học – Công nghệ) đã tổ chức hội nghị đầu bờ “Ứng dụng khoa học và công nghệ cho cá rô đầu vuông sinh sản nhân tạo và xây dựng mô hình nuôi thâm canh cá chép lai V1”.Các đại biểu tham quan trại cá Mai Viên (xã Song Mai, Kim Động)
Các đại biểu tham quan trại cá Mai Viên (xã Song Mai, Kim Động)
Dự án “Ứng dụng khoa học và công nghệ cho cá rô đầu vuông sinh sản nhân tạo và xây dựng mô hình nuôi thâm canh cá chép lai V1” được triển khai trong vòng 12 tháng, từ tháng 2.2014 - 1.2015 tại một số xã của các huyện Ân Thi, Kim Động, Tiên Lữ và thành phố Hưng Yên. Dự án được triển khai nhằm mục đích: Sản xuất cá rô đầu vuông bằng sinh sản nhân tạo, chủ động cung ứng cho người dân nguồn con giống, xây dựng mô hình trình diễn nuôi thâm canh cá chép lai V1 góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế từ việc chăn nuôi thủy sản trong tỉnh. Tham gia dự án, nông dân được hỗ trợ 100% con giống, được hướng dẫn kỹ thuật nuôi, quy trình phòng bệnh cho cá, mật độ thả và thời gian khai thác cùng một số vật tư khác.
Sau một thời gian thực hiện dự án bước đầu đã mang lại kết quả nhất định. Với thời gian nuôi 8 tháng, cá chép lai V1 có trọng lượng trung bình đạt 805g/con, dự kiến tỷ lệ sống đến khi thu hoạch là 75% mang lại lợi nhuận trên 170 triệu đồng/ha. Mô hình cho cá rô đầu vuông sinh sản nhân tạo đã cung cấp trên 179 vạn con cá rô đầu vuông giống ra thị trường và khoảng 120kg trứng cá.
Cùng với nông dân cả huyện hưởng ứng gieo trồng vụ đông tăng năng suất lao động
Có tuyến đường 205 và 208 chạy qua.
Văn hóa Du lịch
Đình Phán Thủy xã Song MaiĐình làng Phán Thủy ( thôn Phán Thủy, xã Song Mai) là nơi chứa đựng nhiều giá trị văn hóa, kiến trúc và tâm linh đặc sắc. ới không gian kiến trúc rộng mang đậm dấu ấn văn hóa độc đáo và tiêu biểu cho kiến trúc điêu khắc truyền thống, khuôn viên đình nhiều cây xanh bao quanh, phía trước sân đình là hồ nước lớn tạo nên một vẻ đẹp đặc trưng thoáng đãng,bình yên và có phần cổ kính. Không gian kiến trúc đình được phân chia thành các khu riêng biệt: ao, vườn, nhà tiền đường và hậu cung, nằm trong một khuôn viên đất rộng bằng phẳng với diện tích lớn. Đình làng Phán Thủy được xây dựng theo kiến trúc truyền thống kết cấu theo kiểu kiến trúc kiểu chữ Tam, được dựng bằng những cột lim tròn to, thẳng tắp đặt trên những hòn đá tảng lớn. Kèo, xà ngang, xà dọc được được làm bằng gỗ lim, tường xây bằng gạch. Mái đình lợp ngói mũi hài,bốn góc có đầu đao cong lên trông như đuôi con công con phượng uốn cong; sân đình được lát gạch sạch sẽ. Bên trong đình các cột mái làm bằng gỗ lim, được trạm trổ tinh vi và có sự tương ứng với nhau một cách hợp lý. Gian giữa có hương án thờ hai vị thành hoàng làng, trong đình có chiếc trống cái to được đặt bên trong mỗi khi có việc trọng đại hay tế lễ, việc của đình là tiếng trống lại vang lên thúc giục người dân, các cụ cao niên về tụ tập lại trong đình để bàn tính công việc của làng, của nước, của đình. .Nét đặc sắc của ngôi đình này là kỹ thuật chạm trổ, điêu khắc trong hậu cung và gian đại bái thật độc đáo theo phong cách dân gian,các nét trạm trổ thanh thoát dứt khoát. Bên cạnh đó, nghệ thuật trang trí cũng rất đặc biệt thể hiện qua các hình ảnh hoa văn trên các cột gỗ hay bức trướng, cửa võng như: hoa sen, cá chép, rồng phượng, lá sen..Tất cả những nét chạm trổ tinh vi khéo léo được đặt trong trong một bố cục hợp lý thể hiện một cuộc sống, cũng như đời sống phong phú của nhân dân lao động trong xã hội xưa. Đình làng Phán Thủy là ngôi đình cổ có giá trị về mặt lịch sử, kiến trúc trên địa bàn tỉnh mà qua thời gian còn bảo lưu được tương đối nguyên vẹn, từ những giá trị lịch sử, kiến trúc và những hiện vật quý được lưu giữ tại di tích. Đình làng Phán Thủy đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ra quyết định công nhận đình là “ Di tích kiến trúc nghệ thuật ” cấp quốc gia vào ngày 08 tháng 7 năm 2014.
Đình Mai Viên xã Song mai.
Đình Mai Viên thuộc thôn Mai Viên, xã Song Mai - một xã có địa bàn rộng, đông dân cư và phát triển trên nhiều lĩnh vực kinh tế, xã hội của huyện Kim Động. Mai Viên – “Mai” làng đẹp như một vườn mai, “ Viên” làng có nhiều quan chức, viên chức. Di tích đình Mai Viên được xây dựng theo kiến trúc kiểu chữ I (chữ công) nhưng mất phần hậu cung và 2 nhà chè. Nay di tích còn lại một nhà tiền tế đồ sộ vừa được nhân dân sửa chữa, mái lợp ngòi mũi phẳng, đầu hồi 2 bên nóc đình được đắp hai đầu kìm đội lân. Trải dài phần nóc nghệ nhân đắp nổi đôi rồng chầu mặt nguyệt uốn thành 3 khúc khỏe mạnh và uy nghi. Kiến trúc đình Mai Viên cao ráo bề thế, kết cấu vì kèo nóc từ đầu đến phần mái theo kiểu chồng gường đấu xen, hệ thống con gường đỡ hoành chạm nổi hình lá lật cách điệu. Do những biến động của lịch sử và xã hội, kiến trúc đình không còn đồng bộ và phải tu bổ nhiều lần vào thời Nguyễn, vì vậy nghệ thuật kiến trúc mang đậm nét thời Nguyễn.
Một số đặc sản của Hưng Yên là nhãn lồng, mật ong hoa nhãn, long nhãn, Cá mòi sông Hồng, hạt sen, bún thang lươn, Đặc sản gà Đông Tảo Hưng Yên, Tương Bần, bánh giày, chả gà tiêu quán, ếch om Phượng Toàn...
Phường / Xã / Thị trấn cùng tên Song Mai:
Thông tin về Xã Hùng An (cũ - trước sáp nhập):
Hùng An là một xã nằm phía tây huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên, nước Việt Nam, cách huyện lỵ 5 km.
Các số điện thoại quan trọng
Bưu điện Kim Động: (0221)3811135.
UBND Tỉnh Hưng Yên: (0221) 3863823 - 3862750
BVĐK Huyện Kim Động: +84 321 3862 406
Taxi Mai Linh Hưng Yên: 03213.52.52.52
Khách sạn Phố Hiến Hưng Yên: 84 321 3862 909
NH nông nghiệp và phát triển nông thôn: 063 3828364
Phòng vé hàng không VN: 063 3825413
Địa lý thời tiết
Diện Tích: 7,46 km²Tổng số dân: 6606 người năm 1999.
Tọa độ: 20°43′37″B 106°00′40″Đ
Có địa giới giáp ranh: Phía đông giáp hai xã Ngọc Thanh và Song Mai. Phía tây giáp với xã Đức Hợp.
Phía nam giáp với xã Phú Cường. Phía bắc giáp với xã Đồng Thanh.
6 thôn: Ninh Phúc, Đống Long, Lai Hạ, Phục Lễ, Tả Hà và Phương Tòng. Trong đó thôn Tả Hà là thôn nằm ngoài đê Sông Hồng.
Mang đặc điểm của khí hậu đồng bằng sông Hồng: nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh hơn nhiều so với điều kiện trung bình vĩ tuyến; thời kỳ đầu của mùa đông tương đối khô, nửa cuối thì ẩm ướt, mùa hạ nóng ẩm, nhiều mưa, khí hậu biến động mạnh.
Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,20c. Mùa hè nhiệt độ trung bình 30 – 320c; cao nhất vào tháng 6 và 7 nhiệt độ có khi lên tới 380c. Mùa đông nhiệt độ trung bình 17-220c; thấp nhất vào tháng 1 và 2 nhiệt độ 8-100c. Tổng tích ôn trung bình hàng năm là 85030c.
Độ ẩm không khí trung bình hàng năm xấp xỉ 85%, cao nhất 90,6%, thấp nhất 60%. Tháng 3 là tháng ẩm nhất và tháng 11 là tháng khô nhất.
Tổng lượng mưa trung bình hàng năm 1700mm. Lượng mưa trung bình tháng trong năm là 175mm. Mưa tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 9. Mưa thường xảy ra trùng với nước lũ sông Hồng lên cao, gây úng lụt ảnh hưởng xấu đến sản xuất và sinh hoạt của dân cư. Nguồn nước sông Hồng là nguồn nước chủ yếu cung cấp cho việc tưới và bồi đắp một phần phù sa cho đồng ruộng.
Với khí hậu – thủy văn như trên là điều kiện thuận lợi cho sinh trưởng của nhiều loại cây trồng tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nền nông nghiệp đa dạng, phong phú. Song phải có những biện pháp phòng chống hạn úng, đồng thời phải xác định cơ cấu mùa vụ cây trồng hợp lý nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế cao.
lịch sử
Địa bàn xã Hùng An có từ lâu đời. Tuy nhiên, đến tháng 8/1945, sau khi cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền thành công, dưới sự chỉ đạo của Trung ương, các địa phương trên toàn quốc đều nhất loạt thành lập chính quyền ở cấp cơ sở, phân địa giới hành chính xã, từ đó Hùng An có tên trên bản đồ, là một trong 19 xã của huyện Kim Động.Đến tháng 5 năm 1956, thời kỳ thực hiện cải cách ruộng đất, thôn Công Luận (thường gọi là làng Lọn) được cắt về xã Đồng Thanh. Xóm bãi ngoài đê dân cư thưa thớt nay đã có thêm nhiều bà con trong nội đồng ra lập nghiệp nên được mang tên mới thôn Tả Hà. Dù có biến động về địa lý hành chính, tên Hùng An vẫn không có sự thay đổi. Tên xã giữ nguyên cho tới ngày nay
Kinh tế
Hùng An có tổng diện tích đất tự nhiên hiện nay là 737,98 ha; trong đó diện tích đất nông nghiệp là 469,09 ha, chủ yếu là đất phù sa đất pha cát và đất thịt rất thích hợp với các loại cây trồng như lúa, màu, cây công nghiệp và cây ăn trái. Diện tích đất sản xuất bình quân đầu người được 655m2.Toàn xã có 6120 nhân khẩu trên tổng số 1720 hộ[2], nghề nghiệp chính chủ yếu là sản xuất nông nghiệp.
Vốn là một nông dân, nguồn thu chính của gia đình Anh Trần Văn Trung ở xã Hùng An (Kim Động) trông chờ vào cấy lúa. Ngoài ra, anh còn chăn nuôi thêm lợn, gà. Tuy nhiên, kinh tế gia đình vẫn gặp nhiều khó khăn. Những năm gần đây, anh chuyển hướng sang nuôi bò thịt lai sind. Gia đình anh hiện nuôi 5 con bò trong đó có 2 con bò lai sind sinh sản. Anh cho biết: sau một thời gian chăn nuôi, gia đình thấy nuôi bò thịt lai sind là phù hợp với vốn đầu tư, lãi suất cao và tận dụng được nguồn phân bón. Hộ anh Trung là một trong rất nhiều hộ nông dân ở huyện Kim Động đang chuyển hướng làm kinh tế sang chăn nuôi.
Đàn bò lai sind của xã Hùng An (Kim Động)
Trên địa bàn huyện Kim Động hiện có khoảng 7.000 con bò lai sind, trong đó bò cái sinh sản hơn 4000 con. Riêng các xã vùng bãi sông Hồng nuôi khoảng 5000 con. Các xã trong huyện có hơn 30 con bò đực giống lai sind, góp phần sản xuất ra nhiều bê lai. Phong trào nuôi bò thịt đã phổ biến rộng trên địa bàn huyện. Phú Cường, Hùng Cường, Phú Thịnh, Hùng An, Ngọc Thanh là những xã phát triển mạnh nghề nuôi bò. Phát huy lợi thế hơn 1200 ha đất bãi, hơn 10,7 km đê sông Hồng tạo thuận lợi về nguồn thức ăn thô, xanh tự nhiên phục vụ chăn nuôi bò, các địa phương còn trồng hàng chục ha cỏ giàu dinh dưỡng tạo thêm nguồn thức ăn xanh cho chăn nuôi. Một số xã xây dựng dự án cải tạo đàn bò hướng thịt. Đàn bò của xã Phú Cường hiện có 2530 con, tăng 1000 con so với năm 2004, trong đó bò lai sind chiếm hơn 90% tổng đàn. Hầu như nhà nào cũng nuôi bò, nhiều hộ nuôi 5-7 con. Xã quy hoạch 3 ha đất canh tác trồng cỏ voi đồng thời khuyến khích các hộ nuôi bò sữa, bò thịt chất lượng cao. Nhiều hộ tận dụng đất vườn để trồng cỏ tạo thêm nguồn thức ăn xanh phục vụ chăn nuôi. Đàn bò của xã Hùng Cường hiện có hơn 2000 con, nhiều hộ nuôi bò hàng năm thu lãi ròng từ bán bò thịt, bê giống hàng chục triệu đồng. Ngoài lượng cỏ ven đê, đất bãi, các hộ sử dụng phế phẩm trong nông nghiệp làm thức ăn cho bò. Mỗi năm xã thu hoạch hơn 2000 tấn ngô, trong đó một phần lớn trước đây bán đổ bán tháo, nay được sử dụng làm nguồn thức ăn giàu dinh dưỡng cho đàn bò. Nuôi bò còn giải quyết việc làm tại chỗ cho mọi lứa tuổi.
Có thể thấy điều kiện thực tế trên địa bàn huyện Kim Động hiện nay có nhiều lợi thế cho nông dân mở rộng quy mô đàn bò. Đặc biệt là nhận thức về hiệu quả từ chăn nuôi của người dân rõ rệt hơn, họ áp dụng thực tế và biết rằng nuôi bò lai sind đem lại hiệu quả kinh tế cao so với trồng trọt và chăn nuôi gà, lợn. Hiện nay, một con bò lai sind 1 năm tuổi, giá bán trên thị trường từ 8- 10 triệu đồng. Trong khi đó, trồng ngô, cấy lúa nếu thâm canh tốt, được mùa cũng chỉ cho thu hơn 1 triệu đồng/sào/năm. Bê lai sind có ngoại hình đẹp, phàm ăn, tăng trọng nhanh, phù hợp với thị hiếu người chăn nuôi nên bán được giá cao, giá trị kinh tế hơn 30- 40% so với bê nội thuần (sau 6-7 tháng tuổi). Từ chăn nuôi bò thịt, nhiều hộ dân nghèo đã vươn lên khá giả, giàu có. Mỗi năm, nguồn thu nhập từ chăn nuôi bò thịt chiếm không dưới 45% tỷ trọng cơ cấu kinh tế của các xã Phú Cường, Hùng Cường. Những địa phương thuần nông này coi chăn nuôi bò thịt là thế mạnh trong phát triển kinh tế, gợi mở hướng làm giàu cho nông dân. Theo đó, chương trình “sind hoá” đàn bò, cải tạo đàn bò địa phương được đại đa số người chăn nuôi hưởng ứng, tham gia. Chất lượng đàn bò của huyện được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ bò lai sind từ 43% (năm 2000) đến nay đạt gần 90% tổng đàn, là một trong những huyện có tỉ lệ bò lai sind đạt cao.
Nhằm đẩy mạnh chăn nuôi, nhiều xã trong huyện tạo điều kiện cho các hộ dân vay vốn với lãi suất ưu đãi để đầu tư chăn nuôi, cải tạo đàn bò. Huyện khuyến khích nuôi bò thịt chất lượng cao, thường xuyên làm tốt công tác vệ sinh thú y, hướng dẫn phòng trừ dịch bệnh, tổ chức tiêm phòng vắc xin định kỳ cho đàn trâu bò. Sắp tới, huyện sẽ triển khai xây dựng chợ mua bán trâu bò tại xã Phú Cường nhằm tạo thuận lợi cho nhân dân nâng cao hiệu quả kinh tế từ chăn nuôi.
Văn hóa Du lịch
Chùa Phương Tòng: Chùa có tên chữ là Tam Cương tự, nhưng thường được gọi là chùa Phương Tòng hoặc gọi nôm la là chùa Phương, thuộc xã Hùng An.Theo lời các vị cao tuổi kể lại thì xưa kia, khu đất này rất trũng nhưng lại nổi lên 3 gờ đất cao. Cho đó là điểm lành, một sự mách bảo thiêng liêng từ tiềm thức nên bà con mới dựng lên ngôi chùa để thờ “Thiên, Địa, Nhân”. Còn có sự duy danh định nghĩa được bà con nhắc đến thì Phương Tòng là đất biểu tượng của tinh thần cao thượng, ngay thẳng, gan góc trước gió bão như cây tùng, cây bách. Chùa được xây dựng vào thời Lê Trung Hưng trên khu đất rộng phía tây của làng, sát chân đê, cổng chùa và Tam Quan hướng thẳng ra sông Hồng gió lộng quanh năm. Tuy chùa được xây dựng kiên cố, bề thế nhưng qua thời gian với nhiều phen bão gió lụt lội, giặc dã lên đã bị xuống cấp nhiều. Cuối năm 1934 bà con địa phương góp công của xây dựng với quy mô như ngày nay.
Như mọi ngôi chùa khác trên đất nước ta, chùa Phương Tòng là nơi thờ Phật, giảng thuyết Phật học, quảng bá mở rộng đạo Phật, hướng con người vào điều lành, điều thiện, tránh xa điều ác. Chùa chẳng những đẹp về cảnh sắc thiên nhiên, mà còn là cơ sở của tổ chức cách mạng có giá trị lịch sử.
Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, hai chiến sĩ cách mạng là Chu Văn Tập và Lương Hiền từ hoạt động ở phía tây nam Hưng Yên đã chuyển địa bàn hoạt động lên chùa Phương Tòng, Hùng An, Kim Động. Hai ông đã chọn nơi hoạt động đầu tiên vào gia đình bà Thứ Thoả - một người sớm được hai ông giác ngộ cách mạng. Sau đó, để đảm bảo hơn cho công tác hoạt động cách mạng, hai ông đã chọn nơi vừa kín đáo vừa tĩnh lặng, đó là chùa Phương với sự giúp đỡ của vị sư trụ trì yêu nước là sư Dưỡng. Hai ông đã dựa vào chùa để hoạt động, gây ảnh hưởng cách mạng rộng rãi ra các vũng xung quanh. Được cơ sở bảo vệ chu đáo, Chu Văn Tập và Lương Hiền sau này đã trở thành cán bộ chủ chốt của chính quyền cách mạng.
Năm 1946 cuộc kháng chiến bùng nổ, chùa Phương Tòng lại được chọn làm cơ sở hoạt động an toàn của Đảng bộ huyện và Tỉnh. Tại đây, đồng chí Chủ tịch lâm thời tỉnh Hưng Yên đã triệu tập lớp học quân sự. Trong thời gian lớp học quân sự diễn ra tại chùa đã được sự giúp đỡ nhiệt thành của các vị sư trụ trì (sư Dưỡng, sau đó là sư Mùi) và vãi Khánh. Sau đó chùa Phương còn được chọn làm địa điểm tổ chức Đại hội của chi bộ xã Hùng An, là nơi đỡ đầu của trung đội du kích Phương Tòng.
Cuối năm 1951, đầu năm 1952, nhà chùa đã đào trong khu nội tự 5 hầm bí mật để đón phân đội bộ đội tỉnh Hưng Yên về ở tại chùa hỗ trợ cho phong trào chién tranh du kích địa phương. Năm 1953, theo yêu cầu của tổ chức, sư Mùi được điều lên công tác ở vùng Khoái Châu, Hoà thượng Đăng Thanh Khiết về thay. Cũng năm này, thực dân Pháp đã tiến hành càn quét bao vây chùa. Trong tình hình khó khăn ấy, vãi Khánh đã ra càn phá, ngăn bước tiến công của địch để chiến sĩ ta có đủ thời gian đối phó. Nhìn chung trong quá trình vận động cách mạng cũng như trong kháng chiến, chùa Phương Tòng luôn là cơ sở vững vàng, tạo điều kiện cho mọi hoạt động cách mạng và chiến đấu chống Pháp của địa phương thắng lợi to lớn.
Từ năm 1968 đến năm 1975, chùa Phương Tòng thường được chọn làm địa điểm tổ chức các hội nghị do cấp trên triệu tập, trong đó có một hội nghị quan trọng ủng hộ phong trào ra đường chống đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai của Phật giáo miền Nam. Chùa còn là nơi Viên Đông y Trung ương sơ tán tránh bom đạn địch đồng thời phát triển được các hoạt động nghề nghiệp một cách an toàn.
Hiện vật được lưu giữ trong di tích chùa Phương Tòng còn khá nhiều. Trên Tam Quan còn có một tượng Phật bà toạ sơn cao 1,4m, 01 chuông đồng cao 0,8m đường kính 0,5m, đúc năm Minh Mệnh thứ 31. Tượng đặt trên bệ cao được tạo dáng rất đẹp. Hai tượng Kim Đồng và Ngọc Nữ cao 0,6m đứng hai bên tượng Phật bà. Bên trong có 21 pho tượng Phật ở Đại Bái và Thượng Điện. Các pho tượng này đều làm ở thế ngồi cân đối hài hoà. Hai khánh thờ Đức Ông và Thánh Hiền, xung quanh khám đều có chạm hình hoa dây sơn màu mận chín; 14 câu đối, 6 bức đại tự, một khánh đồng đúc năm 1937 cao 0,8m rộng 1,1m. Tất cả các đồ thờ trên đã làm cho chùa thêm hấp dẫn bởi vẻ đẹp cổ kính và sự uy linh. Chùa Phương Tòng được Nhà nước xếp hạng Di tích lịch sử cấp quốc gia theo Quyết định công nhận 74 ngày 2/2/1993 của Bộ Văn hoá Thông tin.
Một số đặc sản của Hưng Yên là nhãn lồng, mật ong hoa nhãn, long nhãn, Cá mòi sông Hồng, hạt sen, bún thang lươn, Đặc sản gà Đông Tảo Hưng Yên, Tương Bần, bánh giày, chả gà tiêu quán, ếch om Phượng Toàn...
Phường / Xã / Thị trấn cùng tên Hùng An:
Thông tin về Xã Hiệp Cường (cũ - trước sáp nhập):
Hiệp Cường là một xã nằm ở tận cùng phía nam của huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên, nước Việt Nam.
Các số điện thoại quan trọng
Bưu điện Kim Động: (0221)3811135.
UBND Tỉnh Hưng Yên: (0221) 3863823 - 3862750
BVĐK Huyện Kim Động: +84 321 3862 406
Taxi Mai Linh Hưng Yên: 03213.52.52.52
Khách sạn Phố Hiến Hưng Yên: 84 321 3862 909
NH nông nghiệp và phát triển nông thôn: 063 3828364
Phòng vé hàng không VN: 063 3825413
Địa lý thời tiết
Diện Tích: 7,25 km²Tổng số dân: 7299 người năm 1999.
Tọa độ: 20°42′44″B 106°03′46″Đ
Có địa giới hành chính tiếp giáp với các xã Bảo Khê, Trung Nghĩa (thuộc thành phố Hưng Yên), các xã Ngọc Thanh, Song Mai, thị trấn Lương Bằng (thuộc huyện Kim Động) và các xã Hưng Đạo, Nhật Tân (thuộc huyện Tiên Lữ).
Hiệp Cường có 4 thôn, gồm: thôn Tiên Cầu, thôn Trà Lâm, thôn Đống Lương và thôn Lương Xá. Thôn Đống Lương chia thành 3 cụm dân cư nhỏ là Đống Lương thôn trong, Đống Lương thôn ngoài và trại Đống Lương. Thôn Lương xá được chia thành 3 cụm dân cư là trại Nam, trại Bắc và làng chính. Thôn Trà Lâm được chia thành 2 cụm dân cư là làng chính và trại Trà Lâm.
Mang đặc điểm của khí hậu đồng bằng sông Hồng: nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh hơn nhiều so với điều kiện trung bình vĩ tuyến; thời kỳ đầu của mùa đông tương đối khô, nửa cuối thì ẩm ướt, mùa hạ nóng ẩm, nhiều mưa, khí hậu biến động mạnh.
Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,20c. Mùa hè nhiệt độ trung bình 30 – 320c; cao nhất vào tháng 6 và 7 nhiệt độ có khi lên tới 380c. Mùa đông nhiệt độ trung bình 17-220c; thấp nhất vào tháng 1 và 2 nhiệt độ 8-100c. Tổng tích ôn trung bình hàng năm là 85030c.
Độ ẩm không khí trung bình hàng năm xấp xỉ 85%, cao nhất 90,6%, thấp nhất 60%. Tháng 3 là tháng ẩm nhất và tháng 11 là tháng khô nhất.
Tổng lượng mưa trung bình hàng năm 1700mm. Lượng mưa trung bình tháng trong năm là 175mm. Mưa tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 9. Mưa thường xảy ra trùng với nước lũ sông Hồng lên cao, gây úng lụt ảnh hưởng xấu đến sản xuất và sinh hoạt của dân cư. Nguồn nước sông Hồng là nguồn nước chủ yếu cung cấp cho việc tưới và bồi đắp một phần phù sa cho đồng ruộng.
Với khí hậu – thủy văn như trên là điều kiện thuận lợi cho sinh trưởng của nhiều loại cây trồng tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nền nông nghiệp đa dạng, phong phú. Song phải có những biện pháp phòng chống hạn úng, đồng thời phải xác định cơ cấu mùa vụ cây trồng hợp lý nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế cao.
lịch sử
Thời Pháp thuộc Lương xá nổi tiếng với nghề điện. Trong khoảng những năm 1980, Hiệp Cường có nghề dệt thảm đay sau đó là thảm len xuất khẩu.Hội làng Lương xá được tổ chức vào ngày 10 tháng 3 (âm lịch) hàng năm. Ngày này cũng là ngày các Tân Lão (Nam giới đến tuổi 54) ra trình làng. Hội đền quan Tiên Công tại thôn Tiên Cầu cũng diễn ra hàng năm. Đền này vốn nổi tiếng với những linh vật làm bằng đá (ngựa đá...). Đền cũng đã được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia. Đền lập ra để thờ danh nhân văn hóa Vũ Lãm, người xã Hiệp Cường - Kim Động, đỗ Hoàng giáp năm 1442. Ông có tên trong danh sách các vị đại khoa ở bia Văn Miếu Xích Đằng, Hưng Yên.
Kinh tế
Nghề mây tre đan xuất khẩu ở xã Hiệp Cường (Kim Động) đang phát triển mạnh,Phát huy những thành tích đã đạt được, Đại hội Đảng bộ huyện Kim Động lần thứ XX nhiệm kỳ 2005 - 2010 đề ra nhiều mục tiêu giải pháp nhằm đẩy nhanh công nghiệp hoá- hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, xây dựng Kim Động ngày càng giàu đẹp văn minh. Để đạt được những mục tiêu đề ra, ngay sau đại hội huyện uỷ Kim Động đã thành lập 3 đoàn kiểm tra việc triển khai , quán triệt và tổ chức thực hiện nghị quyết số 36,37 và chỉ thị số 34 của huyện uỷ về phát triển cây vụ đông, phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở, đất canh tác. Kết quả 19/19 xã trên địa bàn triển khai thực hiện nghị quyết, nhiều xã xây dựng chương trình hành động, thành lập ban chỉ đạo sản xuất vụ đông, ban chỉ đạo phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề, ban chỉ đạo cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Điển hình là các xã Thọ Vinh, Đồng Thành, Hùng An. Cùng với đó, Ban chấp hành Đảng bộ huyện Kim Động xây dựng được 5 chương trình hành động thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XX. Trong đó có chương trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp với những mục tiêu cơ bản là giá trị sản xuất nông nghiệp tăng 6,5%/năm, giá trị thu được trên 1 ha canh tác đạt 50 triệu đồng/năm, diện tích cây vụ đông trên diện tích hai lúa đến năm 2010 đạt 80%. Trao đổi với chúng tôi về vấn đề này, ông Vũ Quang Hải- Bí thư huyện uỷ Kim Động cho biết: Huyện có nhiều biện pháp để chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp như chuyển đổi diện tích canh tác ven làng, diện tích sản xuất nông nghiệp bấp bênh sang mô hình kinh tế trang trại, xây dựng vùng lúa cao sản ở một số xã gắn với sản xuất cây vụ đông. Mặc dù gặp nhiều khó khăn do thời tiết gây ra, đến nay nông dân các xã huyện Kim Động đã trồng được 2.400 ha cây rau màu đạt 100% kế hoạch đề ra. Trong đó có 1.208 ha ngô, 264 ha đậu tương, 129 ha khoai tây, 46 ha dưa chuột, 24 ha cải sa lát, 12 ha cây lô gô, còn lại là rau màu các loại. Các xã trồng được nhiều cây vụ đông là: Hiệp Cường, Mai Động, Đồng Thanh. Nét mới của vụ đông năm 2005 - 2006 ở Kim Động là huyện đã đưa một số cây trồng mới có giá trị kinh tế cao vào sản xuất như: bí đỏ, măng tây, lô gô.
ở xã Hiệp Cường, trên cánh đồng của các thôn Trà Lâm, Tân Cầu, Đống Lương, Lương Xá màu xanh mượt mà của ngô đông cải sa lát, đậu tương đã trải kín 202 ha mặt ruộng chiếm hơn 50% diện tích canh tác của toàn xã, tăng 40 ha so với diện tích cây vụ đông năm 2004 - 2005. Anh An ở thôn Trà Lâm cho biết nhà anh trồng khoảng 5 sào cây vụ đông, trong đó có gần 1 sào cây măng tây. Cây măng tây được anh trồng từ đầu năm 2005, đã cho thu hoạch, bước đầu đem lại hiệu quả kinh tế cao, với giá bán 13.000đ/1kg, măng tây sẽ cho thu hoạch cao hơn nhiều so với một số cây trồng khác. Một trong những biện pháp nữa để chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp của huyện Kim Động là đẩy mạnh chăn nuôi bò, đặc biệt là các xã vùng bãi như Phú Cường, Hùng Cường, Hùng An, Ngọc Thanh … Hiện nay toàn huyện có gần một vạn con bò. Xã Ngọc Thanh có 800 con, xã Hùng Cường có 1.700 con. Riêng xã Phú Thịnh có 2.600 con tăng 600 con so với cùng kỳ năm 2004. Nguyên nhân đàn bò ở Phú Cường tăng mạnh là do nuôi bò cho hiệu quả kinh tế cao, nhiều hộ dân trong xã đã đẩy mạnh nuôi bò, không ít hộ đã trồng cỏ, nuôi từ 10 con bò trở lên. Hơn nữa ở Phú Cường việc mua bán bò diễn ra hàng ngày. Có ngày sau vài lần điện thoại qua lại, các thương lái ở đây đã bán ra thị trường (miền Nam, Hà Tây) 30 con bò. Có lẽ đây chính là lý do để huyện Kim Động chọn , khuyến khích xây dựng chợ bán buôn trâu bò ở xã Phú Cường, thực hiện ý tưởng lấy thương mại để thúc đẩy chăn nuôi. Khởi động cho việc xây dựng chợ bán buôn trâu bò ở Phú Cường, huyện đã chỉ đạo xã thành lập hiệp hội chăn nuôi với 37 hội viên tham gia, đồng thời tạo điều kiện về cơ sở vật chất, quy hoạch diện tích trồng cỏ, hình thành khu vực nuôi bò tập trung, cho vay vốn ưu đãi để phát triển đàn bò.
Với những việc làm cụ thể thiết thực nêu trên, tin tưởng rằng Kim Động sẽ thu được kết quả tốt đẹp trong việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, góp phần thực hiện thắng lợi nghị quyết Đại hội Đảng các cấp đề ra.
Văn hóa Du lịch
Đền và lăng Vu Tiên Công: Di tích được đặt theo tên của vị thần được nhân dân tôn thờ là Vũ Tiên Công. Cả đền và lăng đều được xây dựng ở thôn Tiên Cầu, xã Hiệp Cường ngay phía đông quốc lộ 39A rất thuận lợi cho việc tổ chức lễ hội và tham quan, cúng lễ của khách thập phương. Theo văn bia ghi thần tích hiện còn lưu giữ tại đây, khu lăng và đền tưởng niệm ngài Vũ Đình Trác tức Vũ Tiên Công là một quan đại thần dựới triều Lê. Truyền thuyết ở đây kể rằng các bậc sinh thành ra Vũ Đình Trác nguyên là người làng Mộ Trạch huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương – nơi đã sinh ra 36 Tiến sĩ, trong đó, số người đỗ Tiến sĩ thuộc dòng họ Vũ nhiều hơn cả. Do những biến động về kinh tế chính trị và xã hội, nhiều người dân ở Mộ Trạch đã phải di tán tới nhiều nơi, trong đó có một gia đình họ Vũ Đình tới định cư ở xã Tiên Cầu. Tại đây ông bà đã sinh ra một người con trai đặt tên là Vũ Đình Trác.Thần tích ghi nhận ông là ngựời thông minh ham học, đặc biệt là võ nghệ rất siêu việt được bạn bè và nhân dân địa phương kính nể. Lớn lên, Vũ Đình Trác sớm trở thành một nhà cầm quân có uy tín thời Hậu Lê. Với những chiến tích trong việc bảo vệ đất nước, bảo vệ triều chính, Vũ Đình Trác sớm trở thành một đại thần của triều đình. Năm 1740, niên hiệu Cảnh Hưng 35 (Cảnh Hưng tam thập ngũ niên tuế thứ) ông được phong Đặc Tiến Phụ Quốc Thượng Tướng Quân . Sau đó 4 năm (tức năm 1744), do lập được nhiều chiến công hiển hách, ông được triều đình ra sắc chỉ, chuẩn bị vàng bạc cho nhân dân địa phương xây dựng lăng và đền tạ ơn ông. Có thể nói đây là một trong những trường hợp khá độc đáo. Công trình được xây dựng trong thời gian người được tôn vinh còn sống và đang tại chức. Chính điều ấy minh chứng cho sự trung thành hết mực của ông với đất nước và càng cổ vũ ông hơn nữa trong công việc để xứng đáng với sự quan tâm của triều đình.
Năm 1786, Vũ Đình Trác lâm bệnh tạ thế. Theo nguyện vọng của địa phương, triều đình đã cho đưa thi hài ông về chôn cất tại Tiên Cầu. Phần mộ của ông được xây lăng cách đền chùng 300m. Trước công lao của ông, nhân dân địa phương đã gọi ông bằng cái tên kính trọng “ Vũ Tiên Công” và từ đó khu lăng, đền cũng được gọi là lăng đền Vũ Tiên Công. Công lao của Vũ Tiên Công và sự nghiệp của ông được nhân dân địa phương luôn luôn ghi tạc và họ đã tôn ông là Thành Hoàng của xã. Cuốn thần tích cùng với tiểu sử của ông được lưu truyền mãi trong lòng dân từ thế hệ này sang thế hệ khác. Hàng năm cứ vào ngày 1/3 âm lịch, địa phương tổ chức lễ hội để tưởng niệm Vũ Tiên Công.
Chính với niềm tự hào sâu sắc về tấm gương Đức Tiên Công mà mảnh đất Tiên Cầu đã phát huy được vai trò của mình trong quá trình lịch sử. Thời kỳ Tiền khởi nghĩa, nhiều cán bộ của Đảng đã về đây hoạt động và xây dựng cơ sở cách mạng. Nhân dân Tiên Cầu không sợ gian khó nguy hiểm, tạo điều kiện tốt nhất cho cán bộ đến hoạt động an toàn. Được sự đùm bọc cho chở của nhân dân, Đảng ta đã xây dựng được cơ sở vững mạnh ở Tiên Cầu.
Trong cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 lực lượng vũ trang và nhân dân Tiên Cầu đã tập trung ở đền, tiến vào giành chính quyền ở huyện lỵ Kim Động và tỉnh lỵ Hưng Yên. Sau khi đã đập tan chính quyền cũ, nhân dân Tiên Cầu đã nhiều lần tổ chức mít tinh ở khu đền để biểu dương lực lượng quần chúng, chào mừng Chính phủ cách mạng lâm thời.
Năm 1946 thực dân Pháp tráo trở xâm lược nước ta lần thứ 2. Dưới sự lãnh đạo của tổ chức Đảng, đội tự vệ Tiên Cầu được nhanh chóng thành lập. Nhân dân đã cùng đội tự vệ đào hào, đắp ụ xẻ đường cản bước tiến của giặc. Trong 9 năm kháng chiến, Tiên Cầu luôn là điểm nóng, du kích địa phương đã phối hợp với bộ đội đánh nhiều trận ác liệt trên đường 39A, khu lăng và đền được chọn là nơi mai phục của quân ta. Sau các cuộc chiến đấu với thực dân Pháp ở các vùng phụ cận như Dốc Lã, Cầu Ngàng bộ đội ta lại rút về khu đền. Có thể nói trong kháng chiến trường kỳ, khu vực lăng và đền Vũ Tiên Công luôn được chọn làm vị trí ém quân và xuất kích của quân ta có độ đảm bảo bí mật cao nhất.
Là nơi diễn ra nhiều trận đụng độ quyết liệt với địch nên có thể nói Tiên Cầu là một trong số điểm hứng chịu nhiều bom đạn nhất trong huyện. Khu đền và lăng Vũ Tiên Công bị địch bắn phá ác liệt nhiều lần. Đặc biệt trong trận càn quét năm 1952, chúng đã cướp đi 2 pho tượng đá và một số đồ tế tự quý. Dù vậy, đây vẫn còn giữ được nhiều hiện vật cổ độc đáo như một ban thờ đá dài 1,6m rộng 0,9m tạo dáng theo hình sập bằng chân quỳ da cá, 01 lư hương bằng đá cao 0,3m, đường kính rộng 0,25m, hai sườn lư được đục đẽo gọt rũa tạo hình đôi đầu ghê chầu vọng, một bia cũng bằng đá khối cao 1,8m rộng 0,72m dựng năm 1774 ghi công đức đóng góp tu sửa di tích. Khu lăng và đền còn được một quần thể tượng đá tạo nên những nét nhấn thu hút sự chú mục của khách thập phương. Đó là sáu vệ binh tạo từ đá đứng uy nghiêm trên bệ cao 1,86m; hai voi dáng to khoẻ mà đĩnh đạc thư thái; hai ngựa chiến với yên cương trong tư thế trận tiền; hai chó đá ngồi như đang quan sát canh chừng kẻ địch.
Đền và Lăng Vũ Tiên Công đã được nhà nước xếp hạng Di tích lịch sử và nghệ thuật cấp quốc gia theo Quyết định số 97 ngày 21/11/1992 của Bộ Văn hoá – Thông tin.
Một số đặc sản của Hưng Yên là nhãn lồng, mật ong hoa nhãn, long nhãn, Cá mòi sông Hồng, hạt sen, bún thang lươn, Đặc sản gà Đông Tảo Hưng Yên, Tương Bần, bánh giày, chả gà tiêu quán, ếch om Phượng Toàn...
Thông tin về Xã Ngọc Thanh (cũ - trước sáp nhập):
Ngọc Thanh là 1 xã của huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên, nước Việt Nam.
Các số điện thoại quan trọng
Bưu điện Kim Động: (0221)3811135.
UBND Tỉnh Hưng Yên: (0221) 3863823 - 3862750
BVĐK Huyện Kim Động: +84 321 3862 406
Taxi Mai Linh Hưng Yên: 03213.52.52.52
Khách sạn Phố Hiến Hưng Yên: 84 321 3862 909
NH nông nghiệp và phát triển nông thôn: 063 3828364
Phòng vé hàng không VN: 063 3825413
Địa lý thời tiết
Diện Tích: 6,62 km²Tổng số dân: 6.382 người năm 1999.
Tọa độ: 20°43′15″B 106°1′48″Đ
Mang đặc điểm của khí hậu đồng bằng sông Hồng: nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh hơn nhiều so với điều kiện trung bình vĩ tuyến; thời kỳ đầu của mùa đông tương đối khô, nửa cuối thì ẩm ướt, mùa hạ nóng ẩm, nhiều mưa, khí hậu biến động mạnh.
Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,20c. Mùa hè nhiệt độ trung bình 30 – 320c; cao nhất vào tháng 6 và 7 nhiệt độ có khi lên tới 380c. Mùa đông nhiệt độ trung bình 17-220c; thấp nhất vào tháng 1 và 2 nhiệt độ 8-100c. Tổng tích ôn trung bình hàng năm là 85030c.
Độ ẩm không khí trung bình hàng năm xấp xỉ 85%, cao nhất 90,6%, thấp nhất 60%. Tháng 3 là tháng ẩm nhất và tháng 11 là tháng khô nhất.
Tổng lượng mưa trung bình hàng năm 1700mm. Lượng mưa trung bình tháng trong năm là 175mm. Mưa tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 9. Mưa thường xảy ra trùng với nước lũ sông Hồng lên cao, gây úng lụt ảnh hưởng xấu đến sản xuất và sinh hoạt của dân cư. Nguồn nước sông Hồng là nguồn nước chủ yếu cung cấp cho việc tưới và bồi đắp một phần phù sa cho đồng ruộng.
Với khí hậu – thủy văn như trên là điều kiện thuận lợi cho sinh trưởng của nhiều loại cây trồng tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nền nông nghiệp đa dạng, phong phú. Song phải có những biện pháp phòng chống hạn úng, đồng thời phải xác định cơ cấu mùa vụ cây trồng hợp lý nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế cao.
lịch sử
Vào những thế kỷ đầu của công nguyên, Kim Động thuộc quận Giao Chỉ, thời nhà Đinh có tên là Đằng Châu, thời nhà Trần có tên là Kim Động cho đến nay.Ngày 24 tháng 2 năm 1979, theo Quyết định số 70/CP của Hội đồng Chính phủ, huyện Kim Độngsáp nhập với huyện Ân Thi thành huyện Kim Thi, thuộc tỉnh Hải Hưng. Sau 17 năm hợp nhất, đến tháng 4 năm 1996 thực hiện Nghị định số 05/NĐ-CP ngày 27/01/1996 của Thủ tướng Chính phủ, huyện Kim Thi tách ra thành hai huyện Kim Động và Ân Thi như trước.
Kim Động nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, được phù sa sông Hồng bồi đắp. Trải qua hàng vạn năm, bãi bồi lấn dần ra biển, những người dân Việt cổ men theo những dòng sông, săn bắt thủy sản, phát triển nghề trồng lúa nước để sinh sống. Cùng với sự phát triển kinh tế nông nghiệp, những làng mạc định cư đầu tiên của người Kim Động được dựng lên ven sông Hồng. Trong cuộc đấu tranh với thiên nhiên và trong lao động để tồn tại, những người dân với sức lao động cần cù, chịu khó đã đoàn kết, giúp đỡ nhau khai phá những bãi đồng lầy, dựng làng, lập ấp, gieo lúa, trồng màu để sinh sống. Nhiều làng mạc trong huyện hiện nay vẫn còn chữ Xá (nghĩa là cộng đồng cư dân có chung nguồn gốc): Động Xá, Vĩnh Xá, Vũ Xá, Mai Xá,… Đến nay, nhiều nơi trong huyện vẫn còn tên cổ của làng để ghi công lao những người đầu tiên có công khai lập nên, hoặc ghi nhớ những sự tích của làng, như: làng Nở (Duyên Yên), làng Tè (Tạ Xá), làng Phận (Dưỡng Phú)…
Nhân dân Kim Động mang trong mình dòng máu Lạc Rồng, có truyền thống cần cù trong lao động, dũng cảm trong đấu tranh với thiên nhiên, không chịu khuất phục trước bất cứ kẻ thù nào, đã cùng đồng bào cả nước đánh đuổi hết thù trong giặc ngoài; ngày nay nhân dân Kim Động đang hăng say phấn đấu xây dựng một Kim Động giàu mạnh, phồn thịnh, phấn đấu trở thành huyện tiêu biểu của tỉnh về mọi mặt...
Ngày 23 tháng 9 năm 2003, xã Bảo Khê được sáp nhập vào thị xã Hưng Yên.
Từ ngày 6 tháng 8 năm 2013, các xã Hùng Cường, Phú Cường được sáp nhập vào thành phố Hưng Yên.
Ngoài ra có một xã nữa là Đằng Châu không rõ cách Đồng Thanh mấy cây số. Xã Đằng Châu là nơi Phạm Bạch Hổ đóng giữ.
Kinh tế
Những năm qua, các phong trào, hoạt động của xã Ngọc Thanh (Kim Động) đều đạt được những kết quả phấn khởi. Một trong những hoạt động có ý nghĩa chính trị rộng lớn, mang lại nhiều kết quả thiết thực đó là công tác dân vận của Đảng.Xã Ngọc Thanh có 6.578 nhân khẩu, được chia thành 4 thôn, trong đó thôn Ngọc Đồng có trên 70% dân số theo đạo Thiên Chúa. Dưới sự lãnh đạo của đảng bộ xã, thực hiện việc đổi mới phương thức hoạt động của MTTQ và các đoàn thể quần chúng đã phát động các phong trào thi đua yêu nước đến trong toàn xã. Phân công cán bộ, đảng viên phụ trách địa bàn, phụ trách công tác quần chúng và giúp đỡ quần chúng. Ban dân vận của xã sớm kiện toàn, hoạt động nề nếp. Nét mới trong công tác dân vận ở xã Ngọc Thanh là ban dân vận thường xuyên trực tại trụ sở UBND xã vào các ngày làm việc, do vậy việc báo cáo của các thành viên được thường xuyên hơn kịp thời hơn khi cơ sở có những vấn đề cần giải quyết. Trong họp giao ban định kỳ những vấn đề mới nảy sinh từ cơ sở, những khó khăn vướng mắc đều được các thành viên của khối phản ánh đầy đủ, đồng thời để xuất với đảng uỷ, UBND, các ban ngành chức năng cùng phối hợp giải quyết.
Là xã có đồng bào lương - giáo cùng chung sống, vì vậy xã luôn chú trọng đến việc xây dựng mối đoàn kết lương - giáo. Đồng chí Đỗ Hữu Thuần, trưởng ban dân vận của xã trong khi trao đổi với chúng tôi luôn nhấn mạnh: Việc khơi dậy và phát huy tính nhân ái của con người Việt Nam, kết hợp hài hòa giữa các yếu tố tích cực trong đạo đức và phương châm "Vô ngã, vị tha", "Đạo pháp, dân tộc và CNXH" của Phật giáo; "Sống phúc âm giữa lòng dân tộc vì hạnh phúc của mọi người" của Thiên Chúa giáo; lấy đó làm trọng tâm trong việc xây dựng mối đoàn kết lương giáo, tinh thần tương thân, tương ái trong cộng đồng. Năm 2000 thôn Ngọc Đồng được UBND tỉnh công nhận là làng văn hóa, thôn công giáo đầu tiên của tỉnh được nhận danh hiệu này. Ngoài ra nhân dân còn tích cực đóng góp tiền của, ngày công xây dựng nhà văn hóa thôn trị giá gần 70 triệu đồng, làm đường làng, trường học trị giá hàng trăm triệu đồng.
Do phát huy được sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân nên qua các phong trào thi đua yêu nước, qua các cuộc vận động do Đảng, Nhà nước phát động, nhân dân trong xã nhiệt tình hưởng ứng tham gia đóng góp xây dựng các loạt quỹ. Các cuộc vận động sức dân tham gia đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng, kiến thiết các công trình phúc lợi đều được nhân dân đồng lòng. Trong phát triển kinh tế, xã vận động nhân dân phát huy các nghề truyền thống áp dụng khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất. Trong vụ đông xuân nhiều mảnh ruộng trong thường bị bỏ không, xã có chủ trương vận động nhân dân đưa cây rau cần vào canh tác, cho thu nhập từ 1,5 - 2 triệu đồng một sào, khắc phục được tình trạng đất "nghỉ", góp phần nâng cao đời sống của nhân dân.
Đến xã Ngọc Thanh hôm nay, mọi người đều cảm nhận được sự đổi thay, đi lên. Chính quyền thực sự là của dân, do dân và vì dân, MTTQ và các đoàn thể hoạt động có hiệu quả, góp phần quan trọng giữ vững ổn định chính trị, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của địa phương.
Văn hóa Du lịch
Đình Duyên YênThôn Duyên Yên thuộc xã Ngọc Thanh có ngôi đình bề thế được gội theo địa danh là đình Duyên Yên hay đình Lở (tên nôm bà con quen gọi từ lâu đời). Đình xây dựng vào năm 1786, kiến trúc hình chữ Nhị trên khu đất rộng, cao ráo, có mặt tiền chính nam hướng ra đê sông Hồng, quanh năm bờ bãi dâu mầu xanh tốt. Đình thờ bốn vị thần: An Sinh Vương Trần Liễu. Trần Liễu sinh năm 1211, quê thuộc hương Tức Mạc, phủ Thiên Trường (tỉnh Nam Định ngày nay) thân phụ của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, người anh hùng dân tộc văn võ song toàn đã lập nhiều chiến công hiển hách trong 3 lần kháng chiến chống quân Nguyên Mông. Ngày mồng 1 tháng 4 niên hiệu Nguyên Phong thứ nhất (1251) Trần Liễu qua đời thọ 41 tuổi. Trên núi An Phụ, huyện Kinh Môn và nhiều địa phương đã lập đền thờ và lấy ngày người mất làm ngày mở hội truyền thống, một tập quán tốt đẹp được duy trì từ nhiều thế kỷ.
Tại Đình Duyên Yên, từ văn tế đến văn bia, bia ký đều ghi chú ngày giỗ (18/10) và công đức của ngài. Dân vùng Duyên Yên thường trôi giạt đi kiếm sống ở nhiều nơi vì nạn vỡ đê, lụt lội và mất mùa. Đại vương rất thương dân, ngài bày cho dân đắp đê mỗi năm một vững chắc hơn, chiêu tập dân tản mác nhiều nơi trở về quê cũ làm ăn. Ngài còn lệnh cho chức dịch bản điạ cấp tiền bạc, ruộng đất để dân canh tác thoát khỏi cảnh đói khát, tha phương cầu thực nơi đất người. Nhờ có đức lớn của ngài mà lập nên ấp An Sinh, sau thành làng Duyên Yên đông đúc, trù phú. Ngày 18/10 hàng năm Duyên Yên mở hội làng để tôn vinh tưởng nhớ ngài. Theo lời kể lại từ nhiều năm ngày đó là ngày ngài phát lệnh chiêu tập dân về lập ấp, nhận thêm ruộng đất về cày cấy. Văn bia, văn tế đã được ghi chép với lời lẽ hết sức trân trọng suy tôn ngài là Anh Linh Hiển Ứng. An Sinh Vương sau đó còn được truy phong là Khâm Minh Đại Vương.
Còn ba vị thần khác có sự tích tóm tắt như sau: Đức Thiên Bồng Phong Lôi Đại Vương là một vị tướng có vóc dáng cao lớn, võ nghệ cao cường được An Sinh giao cho tập đội dân binh, dạy cho dân biết võ thuật và cách bài binh bố trận. Thời đó tất cả vương hầu, chức dịch lớn nhỏ đều phải thành lập đội dân binh dưới quyền, theo chính sách “tĩnh ư dân, động ư lính”, tức là lúc yên là người dân cày, khi có biến là người lính cầm vũ khí giữ làng; Đức Thiên Trung Quảng Tế Đại Vương là người đựoc An Sinh Vương giao cho việc dạy dân ấp cày cấy, biết cách phòng chống mưa bão, lụt lội, hạn hán, vượt qua những thử thách khắc nghiệt của một vùng chiêm chũng luôn bị thiên tai đe doạ. Đức Đại Vương là người am hiểu tứ thời, bát tiết, phong vũ hàn nhiệt nên người đã có công lớn trong việc mở mang nghề trồng trọt nên người đã có công lớn trong việc mở mang nghề trồng trọt, cấy cày ở vùng đất này thích hợp với thời tiết phong thuỷ; Quốc Vương Cương Vực Đại Vương là người được An Sinh Vương giao cho chăm lo việc học hành, lễ giáo của dân. Người có phong tháo hào hoa, khoan thai đĩnh đạc, thông hiểu sách sử của tiền nhân, dạy cho dân về trung hiếu tiết nghĩa, tam cương ngũ thường, được dân ấp kính trọng.
Sau này, trong kháng chiến chống thực dân Pháp, đình Duyên Yên, dù bị ép giữa hai gọng kìm đồn bốt của giặc Pháp là bốt Ngọc Đồng và bốt Dốc Lã nhưng vẫn có nơi thường xuyên diễn ra các hội nghị quan trọng của huyện và tỉnh, là nơi tập kết bộ đội chủ lực và du kích để đánh địch trên đường giao thông chiến lược 39A và đê sông Hồng trong các trận đánh phục kích chống địch càn quét từ phía thị xã Hưng Yên và từ sông Hồng đổ quân lên.
Duyên Yên là đất hiếu học, có truyền thống yêu nước từ xa xưa nên sau này đã sớm biết tiếp thu ánh sáng cách mạng do Đảng Cộng Sản và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soi rọi tới. Nhiều cán bộ từ Mặt trận Việt Minh thời Tền khởi nghĩa sau này đã trở thành cán bộ cao cấp của Đảng hoạt động trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế quản lý Nhà nước, có người được giao chức trách quan trọng là Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung Ương, Trưởng ban Tổ chức Trung ương (đồng chí Trần Đình Hoan).
Ngày mồng Hai Tết Nguyên đán 1999, tại đình Duyên Yên, đồng chí Lê Khả Phiêu, Tổng Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng đã có cuộc chò truyện với bà con và lãnh đạo địa phương. Ở vương cảnh trứơc cửa đình, đồng chí Lê Khả Phiêu đã trồng một cây đa lưu niệm.
Tại di tích đình Duyên Yên hiện còn lưu giựcd đựơc một số hiện vật quý: hiện vật bằng đá có 2 nghê, 2 phỗng, 3 bia; bằng đồng có 2 bát hương, 3 bộ tam sự; bằng gỗ chạm khắc son thiếp bạc vàng có 4 cỗ ngai, 2 đôi hạc, 1 bộ chấp kính và nhiều đồ thờ khác.
Đình Duyên Yên được Nhà nước xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia theo Qyết định số 78 ngày 23/8/2004 của Bộ Vă hoá – Thông tin. Làng mở hội tại đình vào ngày 18 tháng 10 hàng năm, lễ hội được đông đảo bà con trong vùng tìm đến tham dự. Tại sân đình và trên bãi cỏ ven đê trứơc đình có những trò chơi dân gian được truyền lại từ nhiều năm như: đánh đu, đánh chọi gà, thi vật…
Một số đặc sản của Hưng Yên là nhãn lồng, mật ong hoa nhãn, long nhãn, Cá mòi sông Hồng, hạt sen, bún thang lươn, Đặc sản gà Đông Tảo Hưng Yên, Tương Bần, bánh giày, chả gà tiêu quán, ếch om Phượng Toàn...
Phường / Xã / Thị trấn cùng tên Ngọc Thanh:
Xem thêm:
Hình ảnh về Hiệp Cường, Hưng Yên

Đình Phán Thủy xã Song Mai- Kim Động- Hưng Yên

Đình Mai Viên xã Song mai- Kim Động- Hưng Yên

Làm ruộng tại xã Song mai- Kim Động- Hưng Yên

Chùa Phương Tòng- Hùng An- Kim Động- Hưng Yên

Nuôi bò thịt- Hùng An- Kim Động- Hưng Yên

Sen Kim Động

Lương Xá- Hiệp Cường- Kim Động- Hưng Yên

UBND xã Hiệp Cường- Kim Động- Hưng Yên

Chùa Tiên Tường_Chốn Bồng Lai xã Hiệp Cường- Kim Động- Hưng Yên

Đình Duyên Yên- Ngọc Thanh- Kim Động- Hưng Yên

Nhà thờ Ngọc Đồng- Ngọc Thanh- Kim Động- Hưng Yên

Sen Kim Động
Dự án bất động sản tại Xã Hiệp Cường, Kim Động - Hưng Yên
Hiện chưa có dự án nào tại Xã Hiệp Cường, Kim Động - Hưng Yên
Xã Hiệp Cường gần với xã, phường nào?
Bản đồ vị trí Hiệp Cường
Ghi chú về Xã Hiệp Cường
Thông tin về Xã Hiệp Cường, Tỉnh Hưng Yên liên tục được cập nhật tại tinbds.com. Nếu bạn thấy thông tin không chính xác, vui lòng góp ý với ban quản trị website tinbds.com. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn đóng góp của bạn.
Từ khóa tìm kiếm:
Xã Hiệp Cường, Tỉnh Hưng Yên: mã số, diện tích, dân số, mật độ dân số; Xã Hiệp Cường sau sáp nhập
Từ khóa tìm kiếm:
Xã Hiệp Cường, Tỉnh Hưng Yên: mã số, diện tích, dân số, mật độ dân số; Xã Hiệp Cường sau sáp nhập
Xem trên Google Maps