Xã Đức Hợp, Tỉnh Hưng Yên sau sáp nhập
Mục lục:
Thông tin tổng quan về Xã Đức Hợp sau sáp nhập
Xếp hạng Xã Đức Hợp
Xã Đức Hợp thành lập theo nghị quyết Số: 1666/NQ-UBTVQH15; Ngày: 16/06/2025Thông tin cơ bản:
- Mã số: 12313
- Trung tâm hành chính: đang cập nhật
- Diện tích: 22.37 km²
- Dân số: 29,424 người
- Mật độ dân số: 1,337 người/km²
- Sáp nhập từ: Xã Phú Thọ, Xã Mai Động, Xã Đức Hợp
Thông tin về Xã Mai Động (cũ - trước sáp nhập):
Mai Động là một xã nằm phía tây huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên, nước Việt Nam.
Các số điện thoại quan trọng
Bưu điện Kim Động: (0221)3811135.
UBND Tỉnh Hưng Yên: (0221) 3863823 - 3862750
BVĐK Huyện Kim Động: +84 321 3862 406
Taxi Mai Linh Hưng Yên: 03213.52.52.52
Khách sạn Phố Hiến Hưng Yên: 84 321 3862 909
NH nông nghiệp và phát triển nông thôn: 063 3828364
Phòng vé hàng không VN: 063 3825413
Địa lý thời tiết
Diện Tích: 6,27 km²Tổng số dân: 5432 người năm 1999.
Tọa độ: 20°43′14″B 105°58′14″Đ
Phía tây giáp sông Hồng, phía bắc giáp với xã Phú Thịnh, phía nam giáp với xã Đức Hợp. Xã có 3 thôn Nho Lâm, Hạnh Lâm, và Văn Nghệ.
Mang đặc điểm của khí hậu đồng bằng sông Hồng: nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh hơn nhiều so với điều kiện trung bình vĩ tuyến; thời kỳ đầu của mùa đông tương đối khô, nửa cuối thì ẩm ướt, mùa hạ nóng ẩm, nhiều mưa, khí hậu biến động mạnh.
Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,20c. Mùa hè nhiệt độ trung bình 30 – 320c; cao nhất vào tháng 6 và 7 nhiệt độ có khi lên tới 380c. Mùa đông nhiệt độ trung bình 17-220c; thấp nhất vào tháng 1 và 2 nhiệt độ 8-100c. Tổng tích ôn trung bình hàng năm là 85030c.
Độ ẩm không khí trung bình hàng năm xấp xỉ 85%, cao nhất 90,6%, thấp nhất 60%. Tháng 3 là tháng ẩm nhất và tháng 11 là tháng khô nhất.
Tổng lượng mưa trung bình hàng năm 1700mm. Lượng mưa trung bình tháng trong năm là 175mm. Mưa tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 9. Mưa thường xảy ra trùng với nước lũ sông Hồng lên cao, gây úng lụt ảnh hưởng xấu đến sản xuất và sinh hoạt của dân cư. Nguồn nước sông Hồng là nguồn nước chủ yếu cung cấp cho việc tưới và bồi đắp một phần phù sa cho đồng ruộng.
Với khí hậu – thủy văn như trên là điều kiện thuận lợi cho sinh trưởng của nhiều loại cây trồng tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nền nông nghiệp đa dạng, phong phú. Song phải có những biện pháp phòng chống hạn úng, đồng thời phải xác định cơ cấu mùa vụ cây trồng hợp lý nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế cao.
lịch sử
Vào những thế kỷ đầu của công nguyên, Kim Động thuộc quận Giao Chỉ, thời nhà Đinh có tên là Đằng Châu, thời nhà Trần có tên là Kim Động cho đến nay.Ngày 24 tháng 2 năm 1979, theo Quyết định số 70/CP của Hội đồng Chính phủ, huyện Kim Độngsáp nhập với huyện Ân Thi thành huyện Kim Thi, thuộc tỉnh Hải Hưng. Sau 17 năm hợp nhất, đến tháng 4 năm 1996 thực hiện Nghị định số 05/NĐ-CP ngày 27/01/1996 của Thủ tướng Chính phủ, huyện Kim Thi tách ra thành hai huyện Kim Động và Ân Thi như trước.
Kim Động nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, được phù sa sông Hồng bồi đắp. Trải qua hàng vạn năm, bãi bồi lấn dần ra biển, những người dân Việt cổ men theo những dòng sông, săn bắt thủy sản, phát triển nghề trồng lúa nước để sinh sống. Cùng với sự phát triển kinh tế nông nghiệp, những làng mạc định cư đầu tiên của người Kim Động được dựng lên ven sông Hồng. Trong cuộc đấu tranh với thiên nhiên và trong lao động để tồn tại, những người dân với sức lao động cần cù, chịu khó đã đoàn kết, giúp đỡ nhau khai phá những bãi đồng lầy, dựng làng, lập ấp, gieo lúa, trồng màu để sinh sống. Nhiều làng mạc trong huyện hiện nay vẫn còn chữ Xá (nghĩa là cộng đồng cư dân có chung nguồn gốc): Động Xá, Vĩnh Xá, Vũ Xá, Mai Xá,… Đến nay, nhiều nơi trong huyện vẫn còn tên cổ của làng để ghi công lao những người đầu tiên có công khai lập nên, hoặc ghi nhớ những sự tích của làng, như: làng Nở (Duyên Yên), làng Tè (Tạ Xá), làng Phận (Dưỡng Phú)…
Nhân dân Kim Động mang trong mình dòng máu Lạc Rồng, có truyền thống cần cù trong lao động, dũng cảm trong đấu tranh với thiên nhiên, không chịu khuất phục trước bất cứ kẻ thù nào, đã cùng đồng bào cả nước đánh đuổi hết thù trong giặc ngoài; ngày nay nhân dân Kim Động đang hăng say phấn đấu xây dựng một Kim Động giàu mạnh, phồn thịnh, phấn đấu trở thành huyện tiêu biểu của tỉnh về mọi mặt...
Ngày 23 tháng 9 năm 2003, xã Bảo Khê được sáp nhập vào thị xã Hưng Yên.
Từ ngày 6 tháng 8 năm 2013, các xã Hùng Cường, Phú Cường được sáp nhập vào thành phố Hưng Yên.
Ngoài ra có một xã nữa là Đằng Châu không rõ cách Đồng Thanh mấy cây số. Xã Đằng Châu là nơi Phạm Bạch Hổ đóng giữ.
Kinh tế
Theo thống kê của huyện Kim Động, đầu tháng 4.2014 xã Mai Động mới nuôi gần 300 con bò thịt thì đến nay đàn bò thịt của xã đã trên 600 con, trong đó riêng “làng đảo” Vân Nghệ nuôi gần 500 con. Tại “làng đảo” này, bình quân mỗi hộ gia đình nuôi 3 con bò thịt, hộ nuôi nhiều 8 - 9 con, nông dân lấy chăn nuôi bò thịt là hướng chủ yếu cho phát triển kinh tế hộ, làm giàu. Với các thôn ven đê, trong đồng cũng đang phát triển mạnh đàn bò thịt. Anh Nguyễn Đình Thuân, thôn Hạnh Lâm cho biết: “Trước đây thân cây chuối chúng tôi bỏ đi nhưng nay được dùng để nuôi bò. Bởi thế, thức ăn cho nuôi bò thịt càng dồi dào, dễ kiếm. Hơn nữa bò ít dịch bệnh, chuồng nuôi đơn giản nên từ năm ngoái vợ chồng tôi chuyển sang đầu tư nuôi bò thịt, thường xuyên trong chuồng có 7 - 8 con. Bắt bò lúc khoảng 5 - 6 tháng tuổi, nuôi sau khoảng 1 năm bán lãi trung bình 10 – 12 triệu đồng/con. Nuôi bò thịt hiệu quả tốt nên tới đây tôi bắt thêm chục con nữa về nuôi”.Nuôi bò sữa tuy chi phí đầu tư lớn, kỹ thuật chăn nuôi yêu cầu cao hơn nhiều so với nuôi bò thịt song vẫn có sức hút với nhiều nông hộ. Với “giá bán sữa bò chỉ có lên chứ chưa có xuống”, như nông dân ở đây nói, khiến người nuôi bò sữa yên tâm gắn bó với vật nuôi này. Theo tổng hợp của Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện, hiện toàn huyện có gần 500 con bò đang cho khai thác sữa, trong đó xã Hùng An có trên 330 con, xã Phú Thịnh trên 125 con, Mai Động trên 20 con… tăng khoảng 100 con so với đầu năm. Trong khi đó, mục tiêu của huyện đến năm 2015 nuôi khoảng 500 con bò sữa (kế hoạch này bao gồm cả đàn bò sữa của hai xã Phú Cường và Hùng Cường, nay đã chuyển về thành phố Hưng Yên). Ông Đặng Văn Bốt (xã Mai Động) đang nuôi 8 con bò sữa, trong đó 5 con đang cho khai thác trên 100 kg sữa/ngày nhận định rằng trong vòng 2 năm tới đàn bò sữa, bò thịt trong xã sẽ tăng rất mạnh. Những hộ có tiềm lực tài chính sẽ tập trung nuôi bò sữa, những hộ khác sẽ nuôi bò thịt. Vấn đề đặt ra là diện tích đất cho trồng cỏ voi để nuôi bò sữa phải được chính quyền địa phương quy hoạch gọn vùng cho nhân dân trồng thuận lợi. Bò sữa phải ăn cỏ voi mới cho nhiều sữa, không như bò thịt chỉ tận dụng thân cây ngô, cây chuối là đủ.
Một trong những yếu tố tạo thuận lợi cho đàn bò sữa, bò thịt của huyện Kim Động phát triển mạnh thời gian qua là việc tỉnh, huyện quan tâm đầu tư hỗ trợ tập huấn kỹ thuật chăn nuôi bò. Thực hiện Đề án giống vật nuôi tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2011 – 2015, hàng năm tỉnh đều tổ chức giám định, bình tuyển toàn bộ đàn bò sữa, kiên quyết loại thải cá thể không đủ điều kiện, tiêu chuẩn nhằm bảo đảm hiệu quả kinh tế cho người nuôi bò sữa. Trên địa bàn huyện tổ chức 3 điểm thu mua sữa bò bảo đảm năng lực mua gom toàn bộ sữa bò của cả huyện và vùng lân cận. Đối với đàn bò thịt, bên cạnh tăng cường công tác tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật nuôi, phòng bệnh cho bò, năm 2013 huyện được tỉnh hỗ trợ trên 230 con giống bò thịt lai 3 máu, góp phần làm đa dạng thêm giống bò thịt cũng như giúp nông dân tiếp cận được với nền giống bò thịt cho chất lượng thịt, hiệu quả kinh tế cao hơn, tạo đà thúc đẩy chăn nuôi bò thịt tốt hơn.
Văn hóa Du lịch
Chùa Nho LâmMột số đặc sản của Hưng Yên là nhãn lồng, mật ong hoa nhãn, long nhãn, Cá mòi sông Hồng, hạt sen, bún thang lươn, Đặc sản gà Đông Tảo Hưng Yên, Tương Bần, bánh giày, chả gà tiêu quán, ếch om Phượng Toàn...
Phường / Xã / Thị trấn cùng tên Mai Động:
Thông tin về Xã Đức Hợp (cũ - trước sáp nhập):
Đức Hợp là 1 xã của huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên, nước Việt Nam.
Các số điện thoại quan trọng
Bưu điện Kim Động: (0221)3811135.
UBND Tỉnh Hưng Yên: (0221) 3863823 - 3862750
BVĐK Huyện Kim Động: +84 321 3862 406
Taxi Mai Linh Hưng Yên: 03213.52.52.52
Khách sạn Phố Hiến Hưng Yên: 84 321 3862 909
NH nông nghiệp và phát triển nông thôn: 063 3828364
Phòng vé hàng không VN: 063 3825413
Địa lý thời tiết
Diện Tích: 7,66 km²Tổng số dân: 7467 người năm 1999.
Tọa độ: 20°43′24″B 105°59′21″Đ
Xã gồm 11 thôn có các thôn như sau: Các thôn ngoài đê sông Hồng gồm có: Bông ngoại, Tam Đa, Soi,Đức ninh,xã tây. Các thôn trong đê gồm có: Bông thượng, Bông hạ, Đổng Thượng, Đồng Hạ, An Lạc
Mang đặc điểm của khí hậu đồng bằng sông Hồng: nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh hơn nhiều so với điều kiện trung bình vĩ tuyến; thời kỳ đầu của mùa đông tương đối khô, nửa cuối thì ẩm ướt, mùa hạ nóng ẩm, nhiều mưa, khí hậu biến động mạnh.
Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,20c. Mùa hè nhiệt độ trung bình 30 – 320c; cao nhất vào tháng 6 và 7 nhiệt độ có khi lên tới 380c. Mùa đông nhiệt độ trung bình 17-220c; thấp nhất vào tháng 1 và 2 nhiệt độ 8-100c. Tổng tích ôn trung bình hàng năm là 85030c.
Độ ẩm không khí trung bình hàng năm xấp xỉ 85%, cao nhất 90,6%, thấp nhất 60%. Tháng 3 là tháng ẩm nhất và tháng 11 là tháng khô nhất.
Tổng lượng mưa trung bình hàng năm 1700mm. Lượng mưa trung bình tháng trong năm là 175mm. Mưa tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 9. Mưa thường xảy ra trùng với nước lũ sông Hồng lên cao, gây úng lụt ảnh hưởng xấu đến sản xuất và sinh hoạt của dân cư. Nguồn nước sông Hồng là nguồn nước chủ yếu cung cấp cho việc tưới và bồi đắp một phần phù sa cho đồng ruộng.
Với khí hậu – thủy văn như trên là điều kiện thuận lợi cho sinh trưởng của nhiều loại cây trồng tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nền nông nghiệp đa dạng, phong phú. Song phải có những biện pháp phòng chống hạn úng, đồng thời phải xác định cơ cấu mùa vụ cây trồng hợp lý nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế cao.
lịch sử
Ngày 24 tháng 2 năm 1979, theo Quyết định số 70/CP của Hội đồng Chính phủ, huyện Kim Độngsáp nhập với huyện Ân Thi thành huyện Kim Thi, thuộc tỉnh Hải Hưng. Sau 17 năm hợp nhất, đến tháng 4 năm 1996 thực hiện Nghị định số 05/NĐ-CP ngày 27/01/1996 của Thủ tướng Chính phủ, huyện Kim Thi tách ra thành hai huyện Kim Động và Ân Thi như trước.Kim Động nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, được phù sa sông Hồng bồi đắp. Trải qua hàng vạn năm, bãi bồi lấn dần ra biển, những người dân Việt cổ men theo những dòng sông, săn bắt thủy sản, phát triển nghề trồng lúa nước để sinh sống. Cùng với sự phát triển kinh tế nông nghiệp, những làng mạc định cư đầu tiên của người Kim Động được dựng lên ven sông Hồng. Trong cuộc đấu tranh với thiên nhiên và trong lao động để tồn tại, những người dân với sức lao động cần cù, chịu khó đã đoàn kết, giúp đỡ nhau khai phá những bãi đồng lầy, dựng làng, lập ấp, gieo lúa, trồng màu để sinh sống. Nhiều làng mạc trong huyện hiện nay vẫn còn chữ Xá (nghĩa là cộng đồng cư dân có chung nguồn gốc): Động Xá, Vĩnh Xá, Vũ Xá, Mai Xá,… Đến nay, nhiều nơi trong huyện vẫn còn tên cổ của làng để ghi công lao những người đầu tiên có công khai lập nên, hoặc ghi nhớ những sự tích của làng, như: làng Nở (Duyên Yên), làng Tè (Tạ Xá), làng Phận (Dưỡng Phú)…
Nhân dân Kim Động mang trong mình dòng máu Lạc Rồng, có truyền thống cần cù trong lao động, dũng cảm trong đấu tranh với thiên nhiên, không chịu khuất phục trước bất cứ kẻ thù nào, đã cùng đồng bào cả nước đánh đuổi hết thù trong giặc ngoài; ngày nay nhân dân Kim Động đang hăng say phấn đấu xây dựng một Kim Động giàu mạnh, phồn thịnh, phấn đấu trở thành huyện tiêu biểu của tỉnh về mọi mặt...
Ngày 23 tháng 9 năm 2003, xã Bảo Khê được sáp nhập vào thị xã Hưng Yên.
Từ ngày 6 tháng 8 năm 2013, các xã Hùng Cường, Phú Cường được sáp nhập vào thành phố Hưng Yên.
Ngoài ra có một xã nữa là Đằng Châu không rõ cách Đồng Thanh mấy cây số. Xã Đằng Châu là nơi Phạm Bạch Hổ đóng giữ.
Kinh tế
Đảng bộ lãnh đạo các đoàn thể và nhân dân đồng lòng thực hiện các tiêu chí với tinh thần tự giác, tự nguyện. Phong trào xây dựng nông thôn mới được nhân dân ủng hộ tích cực, chung tay, góp sức cùng nhau thi đua xây dựng xóm làng diện mạo khang trang. Cùng với sự quan tâm của Nhà nước, các cấp, các ngành và sự đóng góp của nhân dân, cơ sở hạ tầng ở Đức Hợp được đầu tư xây dựng và nâng cấp khá hoàn chỉnh: Đường giao thông nông thôn được bê tông hóa phẳng phiu; nhà văn hóa các thôn đầy đủ, trường học, trạm y tế khang trang... Số kinh phí huy động từ năm 2011 đến hết năm 2014 đạt trên 100 tỷ đồng, trong đó, ngân sách tỉnh trên 3,1 tỷ đồng, ngân sách huyện trên 3,5 tỷ đồng, ngân sách xã trên 17 tỷ đồng, nguồn vốn từ nhân dân trên 78 tỷ đồng (tính cả nhà ở dân cư do người dân tự xây dựng). Tháng 6.2015, xã Đức Hợp đã vinh dự được UBND tỉnh ra quyết định công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới.Để giúp nhân dân sản xuất nông nghiệp thuận lợi, đưa cơ giới hóa vào đồng ruộng, nâng cao hiệu quả kinh tế, Đảng bộ xã lãnh đạo thực hiện dồn thửa đổi ruộng. Theo đó, xã thành lập ban chỉ đạo dồn thửa đổi ruộng, đẩy mạnh công tác tuyên truyền để người dân hiểu được ý nghĩa, lợi ích của việc canh tác trên những thửa ruộng lớn, hạn chế của sản xuất manh mún và đồng tình ủng hộ chủ trương lớn này. Vì vậy, trong khi ở nhiều địa phương khác, việc dồn thửa đổi ruộng gặp khó khăn thì ở Đức Hợp, người dân ủng hộ cao với phương án chính quyền đưa ra. Đến nay xã đã hoàn thành việc dồn thửa đổi ruộng. Đối với diện tích đất hai lúa, 388 hộ có 1 thửa ruộng (chiếm 23,85%), 1.239 hộ có 2 thửa ( chiếm 76,15%) . Đối với diện tích đất bãi, số hộ còn 1 thửa chiếm 67,73%, số hộ còn 2 thửa chiếm 3,27%. Đồng ruộng được qui hoạch lại, thuận lợi trong canh tác, người dân càng thêm tin vào sự lãnh đạo đúng hướng của Đảng bộ.
Trong công tác lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội, đối với sản xuất nông nghiệp, Đảng bộ xã lãnh đạo nhân dân chuyển đổi giống cây trồng có năng suất cao, chất lượng tốt, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Xã đã chuyển đổi được 60 ha đất trồng rau, lúa sang trồng cây ăn quả cho hiệu quả kinh tế cao. Thu nhập bình quân trên 1ha đất canh tác đạt 125 triệu đồng. Đối với chăn nuôi, xã tạo điều kiện thuận lợi cho người dân phát triển mô hình trang trại, chăn nuôi tập trung, tích cực phòng, chống dịch bệnh nên hiệu quả đạt khá. Tổng thu nhập từ lĩnh vực chăn nuôi đạt khoảng 57.54 triệu đồng.
Ngoài tập trung phát triển sản xuất nông nghiệp, Đảng bộ xã định hướng nhân dân quan tâm phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng. Một số nghề thu hút nhiều lao động tham gia là: thợ nề, thợ mộc, may mặc, cơ khí, vật liệu xây dựng, đánh bắt thủy sản. Thu nhập bình quân 1 lao động ngành nghề đạt khoảng 3,5 triệu đồng/tháng. Ước tính, tổng thu nhập từ công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp mỗi năm đạt trên 83.922 triệu đồng. Ngoài ra, nhân dân trong xã còn năng động phát triển dịch vụ , thương mại, xuất khẩu lao động. Riêng năm 2014, thu nhập từ hoạt động dịch vụ đạt trên 73.840 triệu đồng , tăng so với 2010 là 47.892 triệu đồng.
Với sự lãnh đạo đúng hướng của Đảng bộ xã, kinh tế nông thôn nơi đây ngày càng khởi sắc, các chỉ số phát triển kinh tế đạt cao. Tốc độ phát triển kinh tế hàng năm đạt 12%. Cơ cấu kinh tế năm 2014 là: Nông nghiệp 39,92%, công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp 31,58%; dịch vụ, thương mại: 28,5%. Bình quân thu nhập đạt 31,3 triệu đồng/ người/ năm. Tỷ lệ hộ nghèo còn 2,54%.
Những đổi thay ở xã Đức Hợp là do Đảng bộ có định hướng lãnh đạo đúng đắn, hợp lòng dân. Từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ chính trị, Đảng bộ rút ra những bài học kinh nghiệm: Khi ý Đảng hợp lòng dân thì công việc được triển khai nhanh chóng và hiệu quả. Thường xuyên quan tâm xây dựng khối đoàn kết trong Đảng, xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với chính quyền, MTTQ, đoàn thể và các ngành trong thực hiện nghị quyết của Đảng. Các chương trình, kế hoạch thực hiện phải được Đảng ủy bàn bạc dân chủ, quyết định theo đa số, phân công rõ trách nhiệm cho cá nhân phụ trách và xác đinh thời gian thực hiện. Đẩy mạnh việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận, chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức, nhất là cán bộ trẻ để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới.
Giao thông
Đường bộ: quốc lộ 39 (từ Khoái Châu sang) và quốc lộ 38 (từ Ân Thi lại), gặp nhau ở phía bắc huyện, rồi nằm trùng lên nhau, chạy xuyên giữa huyện, qua Lương Bằng, sang thành phố Hưng Yên mới tách nhau ra.Đường thủy: sông Hồng.
Văn hóa Du lịch
Đình Đồng Hạ là ngôi đình được gọi tên theo tên làng. Thôn Đồng Hạ nay thuộc xã Đức Hợp, một trong số xã đông dân cư và phát triển trên nhiều lĩnh vực kinh tế xã hội của huyện, được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Đình thờ Lưu Lang Đại Vương, hàng năm mở hội vào ngày 9/9.Một số đặc sản của Hưng Yên là nhãn lồng, mật ong hoa nhãn, long nhãn, Cá mòi sông Hồng, hạt sen, bún thang lươn, Đặc sản gà Đông Tảo Hưng Yên, Tương Bần, bánh giày, chả gà tiêu quán, ếch om Phượng Toàn...
Xem thêm:
Hình ảnh về Đức Hợp, Hưng Yên

Chùa Nho Lâm xã Mai Động- Kim Động- Hưng Yên

Nuôi bò tại xã Mai Động- Kim Động- Hưng Yên

Sen Kim Động

Trường THPT Đức Hợp- Kim Động- Hưng Yên

Nông dân xã Đức Hợp làm đất trồng ngô

Nhãn lồng Hưng Yên
Dự án bất động sản tại Xã Đức Hợp, Kim Động - Hưng Yên
Hiện chưa có dự án nào tại Xã Đức Hợp, Kim Động - Hưng Yên
Xã Đức Hợp gần với xã, phường nào?
Bản đồ vị trí Đức Hợp
Các trường THPT, CĐ, ĐH tại Xã Đức Hợp - Hưng Yên
| STT | Loại | Tên trường | Địa chỉ |
|---|---|---|---|
| 1 | THPT | Thpt Đức Hợp | Xã Đức Hợp H Kim Động |
Chi nhánh / cây ATM tại Đức Hợp, Hưng Yên
Chi nhánh/ PGD ngân hàng ở Xã Đức Hợp - Hưng Yên
| STT | Ngân hàng | Tên CN/ PGD | Địa chỉ |
|---|---|---|---|
| 1 | Agribank | Phòng giao dịch Đức Hợp | Thôn Bông Thượng, Xã Đức Hợp, Kim Động, Hưng Yên |
Ghi chú về Xã Đức Hợp
Thông tin về Xã Đức Hợp, Tỉnh Hưng Yên liên tục được cập nhật tại tinbds.com. Nếu bạn thấy thông tin không chính xác, vui lòng góp ý với ban quản trị website tinbds.com. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn đóng góp của bạn.
Từ khóa tìm kiếm:
Xã Đức Hợp, Tỉnh Hưng Yên: mã số, diện tích, dân số, mật độ dân số; Xã Đức Hợp sau sáp nhập
Từ khóa tìm kiếm:
Xã Đức Hợp, Tỉnh Hưng Yên: mã số, diện tích, dân số, mật độ dân số; Xã Đức Hợp sau sáp nhập
Xem trên Google Maps