Tỉnh thành VN > Hưng Yên > Xã Nghĩa Dân

Xã Nghĩa Dân, Tỉnh Hưng Yên sau sáp nhập

Thông tin tổng quan về Xã Nghĩa Dân sau sáp nhập

Xếp hạng Xã Nghĩa Dân
  • Diện tích phường/xã/đặc khu thuộc Hưng Yên: #56
  • Diện tích phường/xã/đk toàn quốc: #2872
  • Dân số phường/xã/đk thuộc Hưng Yên: #37
  • Dân số phường/xã/đk toàn quốc: #1154
  • Mật độ dân số phường/xã/đk thuộc Hưng Yên: #24
  • Mật độ dân số phường/xã/đk toàn quốc: #505
Xã Nghĩa Dân thành lập theo nghị quyết Số: 1666/NQ-UBTVQH15; Ngày: 16/06/2025
Thông tin cơ bản:
Thông tin về Xã Đồng Thanh (cũ - trước sáp nhập):
Đồng Thanh là 1 xã của huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên, nước Việt Nam.

Các số điện thoại quan trọng


Bưu điện Kim Động: (0221)3811135.
UBND Tỉnh Hưng Yên: (0221) 3863823 - 3862750
BVĐK Huyện Kim Động: +84 321 3862 406
Taxi Mai Linh Hưng Yên: 03213.52.52.52
Khách sạn Phố Hiến Hưng Yên: 84 321 3862 909
NH nông nghiệp và phát triển nông thôn: 063 3828364
Phòng vé hàng không VN: 063 3825413

Địa lý thời tiết

Diện Tích: 5,645,64 km²
Tổng số dân: 5928 người năm 1999.
Tọa độ: 20°45′17″B 106°00′51″Đ
Phía bắc giáp với xã Vĩnh Xáxã Phạm Ngũ Lão. Phía đông giáp với xã Song Mai. Phía nam giáp với xã Hùng An (Kim Động). Phía tây giáp với xã Thọ Vinh, Đức Hợpxã Nhuế Dương huyện Khoái Châu.
Các sông Kim Ngưu, sông Cửu An, sông mồng 6 tháng giêng chạy qua địa bàn xã.
Mang đặc điểm của khí hậu đồng bằng sông Hồng: nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh hơn nhiều so với điều kiện trung bình vĩ tuyến; thời kỳ đầu của mùa đông tương đối khô, nửa cuối thì ẩm ướt, mùa hạ nóng ẩm, nhiều mưa, khí hậu biến động mạnh.
Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,20c. Mùa hè nhiệt độ trung bình 30 – 320c; cao nhất vào tháng 6 và 7 nhiệt độ có khi lên tới 380c. Mùa đông nhiệt độ trung bình 17-220c; thấp nhất vào tháng 1 và 2 nhiệt độ 8-100c. Tổng tích ôn trung bình hàng năm là 85030c.
Độ ẩm không khí trung bình hàng năm xấp xỉ 85%, cao nhất 90,6%, thấp nhất 60%. Tháng 3 là tháng ẩm nhất và tháng 11 là tháng khô nhất.
Tổng lượng mưa trung bình hàng năm 1700mm. Lượng mưa trung bình tháng trong năm là 175mm. Mưa tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 9. Mưa thường xảy ra trùng với nước lũ sông Hồng lên cao, gây úng lụt ảnh hưởng xấu đến sản xuất và sinh hoạt của dân cư. Nguồn nước sông Hồng là nguồn nước chủ yếu cung cấp cho việc tưới và bồi đắp một phần phù sa cho đồng ruộng.
Với khí hậu – thủy văn như trên là điều kiện thuận lợi cho sinh trưởng của nhiều loại cây trồng tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nền nông nghiệp đa dạng, phong phú. Song phải có những biện pháp phòng chống hạn úng, đồng thời phải xác định cơ cấu mùa vụ cây trồng hợp lý nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế cao.

lịch sử

Xã Đồng Thanh trước kia thuộc xã Vĩnh Đồng. Xã Vĩnh Đồng gồm các làng: Vĩnh Đồng, Vĩnh Phúc và xóm Tiền Lương thuộc tổng Tạ Xá huyện Kim Động. Năm 1946, xã đổi tên là xã Hồng Phong gồm Vĩnh Đồng, Vĩnh Phúc, xóm Tiền Lương, Thanh Sầm, Hoàng Độc. Đến năm 1955, xã đổi tên thành xã Đồng Thanh cho đến ngày nay.
Xã có các thôn là: Vĩnh Đồng, Vĩnh Tiền, Bùi Xá, Thanh Sầm, Công Luận (làng Lọn) và Thái Hòa.
Vào những thế kỷ đầu của công nguyên, Kim Động thuộc quận Giao Chỉ, thời nhà Đinh có tên là Đằng Châu, thời nhà Trần có tên là Kim Động cho đến nay.
Ngày 24 tháng 2 năm 1979, theo Quyết định số 70/CP của Hội đồng Chính phủ, huyện Kim Độngsáp nhập với huyện Ân Thi thành huyện Kim Thi, thuộc tỉnh Hải Hưng. Sau 17 năm hợp nhất, đến tháng 4 năm 1996 thực hiện Nghị định số 05/NĐ-CP ngày 27/01/1996 của Thủ tướng Chính phủ, huyện Kim Thi tách ra thành hai huyện Kim Động và Ân Thi như trước.
Kim Động nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, được phù sa sông Hồng bồi đắp. Trải qua hàng vạn năm, bãi bồi lấn dần ra biển, những người dân Việt cổ men theo những dòng sông, săn bắt thủy sản, phát triển nghề trồng lúa nước để sinh sống. Cùng với sự phát triển kinh tế nông nghiệp, những làng mạc định cư đầu tiên của người Kim Động được dựng lên ven sông Hồng. Trong cuộc đấu tranh với thiên nhiên và trong lao động để tồn tại, những người dân với sức lao động cần cù, chịu khó đã đoàn kết, giúp đỡ nhau khai phá những bãi đồng lầy, dựng làng, lập ấp, gieo lúa, trồng màu để sinh sống. Nhiều làng mạc trong huyện hiện nay vẫn còn chữ Xá (nghĩa là cộng đồng cư dân có chung nguồn gốc): Động Xá, Vĩnh Xá, Vũ Xá, Mai Xá,… Đến nay, nhiều nơi trong huyện vẫn còn tên cổ của làng để ghi công lao những người đầu tiên có công khai lập nên, hoặc ghi nhớ những sự tích của làng, như: làng Nở (Duyên Yên), làng Tè (Tạ Xá), làng Phận (Dưỡng Phú)…
Nhân dân Kim Động mang trong mình dòng máu Lạc Rồng, có truyền thống cần cù trong lao động, dũng cảm trong đấu tranh với thiên nhiên, không chịu khuất phục trước bất cứ kẻ thù nào, đã cùng đồng bào cả nước đánh đuổi hết thù trong giặc ngoài; ngày nay nhân dân Kim Động đang hăng say phấn đấu xây dựng một Kim Động giàu mạnh, phồn thịnh, phấn đấu trở thành huyện tiêu biểu của tỉnh về mọi mặt...
Ngày 23 tháng 9 năm 2003, xã Bảo Khê được sáp nhập vào thị xã Hưng Yên.
Từ ngày 6 tháng 8 năm 2013, các xã Hùng Cường, Phú Cường được sáp nhập vào thành phố Hưng Yên.
Ngoài ra có một xã nữa là Đằng Châu không rõ cách Đồng Thanh mấy cây số. Xã Đằng Châu là nơi Phạm Bạch Hổ đóng giữ.

Kinh tế

- Địa hình bằng phẳng, độ dốc thấp, khí hậu nhiệt đới gió mùa, đất đai màu mỡ là điều kiện thuận lợi để phát triển một nền nông nghiệp phong phú, đa dạng về sản phẩm, khả năng thâm canh tăng vụ cao. Điều này cũng góp phần thúc đẩy ngành công nghiệp chế biến nông sản phát triển mạnh và bền vững.
- Trên địa bàn huyện, nhiều nơi vẫn còn giữ được những ngành nghề truyền thống (mây tre đan, cói, làm rượu,…), mặc dù còn nhỏ lẻ, manh mún, nhưng đây là điều kiện thuận lợi để đầu tư phát triển thành các làng nghề truyền thống có khả năng cạnh tranh cả trong nước và quốc tế.
- Những tài nguyên khoáng sản đã và mới được phát hiện (cát, than bùn…) là cơ sở để phát triển ngành công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản.
- Huyện có tiềm năng du lịch sinh thái, 2 xã Phú Cường, Hùng Cường và thôn Vân Nghệ xã Mai Động là những bãi nổi trên sông Hồng đất đai màu mỡ, cây cối trù phú có tiềm năng du lịch sinh thái nhưng chưa được khai thác.
- Dân cư tập trung, lực lượng lao động trẻ, dồi dào, trình độ đang ngày càng được nâng lên tạo tiền đề vững chắc cho phát triển kinh tế, đa dạng hoá các loại hình kinh tế trên địa bàn huyện.
Định hướng: Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ, hiệu lực điều hành của chính quyền; sự đồng thuận trong hệ thống chính trị; phát huy lợi thế và huy động mọi nguồn lực, khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh nhằm phát triển toàn diện và bền vững về kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh, tạo bước chuyển biến tích cực trong nông nghiệp, nông dân và nông thôn, phấn đấu xây dựng Kim Động trở thành huyện vững mạnh của tỉnh.
Xã Đồng Thanh: theo ước tính trong ngành sản suất của xã thì đa phần thuộc là nông nghiệp, và mạnh nhất vẫn là cấy lúa, và trồng màu theo vụ đông. Bình quân thu nhập đầu người là 11,28 triệu đồng/năm.

Giao thông

Đường bộ: quốc lộ 39 (từ Khoái Châu sang) và quốc lộ 38 (từ Ân Thi lại), gặp nhau ở phía bắc huyện, rồi nằm trùng lên nhau, chạy xuyên giữa huyện, qua Lương Bằng, sang thành phố Hưng Yên mới tách nhau ra.
Đường thủy: sông Hồng.

Văn hóa Du lịch

Thanh Sầm là nơi danh nhân Lê Bá Cường được sinh ra và lớn lên.
Trong huyện có nhiều đền, đài, miếu mạo, nhưng thân thuộc nhât phải kể đến đền Bà Chúa Mụa Trần Thị Am phu nhân chúa TRịnh TráNG nằm tại thôn Cộng Vũ xã Vũ xá huyện Kim Động. Hiện nay đền thờ của Bà, các con cháu đến ngày Rằm, ngày sinh đều tế tự nguyện vong linh cầu phúc.
Một số địa điểm nổi tiếng:
Làng Du Lịch Sinh Thái Vũ Hưng, Kim động, Hưng Yên
Đình Mai Xá, Đình Phán Thủy xã Song Mai, đền Vũ Tiên Công xã Hiệp Cường, đình Mai Viên xã Song mai, Lễ hội truyền thống đền Vũ Tiên Công, đền Đào Xá, đền và lăng Tiên Công, chùa Phương Tòng, đình Bồng Châu, đền Bà Chúa Mua, đình Duyên Yên, đình Đồng Hạ, đình và chùa Đống Long, đình Thanh Cù, chùa Phương Tòng, đình chùa miếu Ngô Xá, miếu Mái và chùa Dưỡng Phú, đình Thổ Cầu, đình An Xá.
Một số đặc sản của Hưng Yên là nhãn lồng, mật ong hoa nhãn, long nhãn, Cá mòi sông Hồng, hạt sen, bún thang lươn, Đặc sản gà Đông Tảo Hưng Yên, Tương Bần, bánh giày, chả gà tiêu quán, ếch om Phượng Toàn...
Phường / Xã / Thị trấn cùng tên Đồng Thanh:

Thông tin về Xã Vĩnh Xá (cũ - trước sáp nhập):
Vĩnh Xá là 1 xã của huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên, nước Việt Nam.

Các số điện thoại quan trọng


Bưu điện Kim Động: (0221)3811135.
UBND Tỉnh Hưng Yên: (0221) 3863823 - 3862750
BVĐK Huyện Kim Động: +84 321 3862 406
Taxi Mai Linh Hưng Yên: 03213.52.52.52
Khách sạn Phố Hiến Hưng Yên: 84 321 3862 909
NH nông nghiệp và phát triển nông thôn: 063 3828364
Phòng vé hàng không VN: 063 3825413

Địa lý thời tiết

Diện Tích: 5,85 km²
Tổng số dân: 6.542 người năm 1999.
Tọa độ: 20°46′50″B 106°1′12″Đ
Mang đặc điểm của khí hậu đồng bằng sông Hồng: nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh hơn nhiều so với điều kiện trung bình vĩ tuyến; thời kỳ đầu của mùa đông tương đối khô, nửa cuối thì ẩm ướt, mùa hạ nóng ẩm, nhiều mưa, khí hậu biến động mạnh.
Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,20c. Mùa hè nhiệt độ trung bình 30 – 320c; cao nhất vào tháng 6 và 7 nhiệt độ có khi lên tới 380c. Mùa đông nhiệt độ trung bình 17-220c; thấp nhất vào tháng 1 và 2 nhiệt độ 8-100c. Tổng tích ôn trung bình hàng năm là 85030c.
Độ ẩm không khí trung bình hàng năm xấp xỉ 85%, cao nhất 90,6%, thấp nhất 60%. Tháng 3 là tháng ẩm nhất và tháng 11 là tháng khô nhất.
Tổng lượng mưa trung bình hàng năm 1700mm. Lượng mưa trung bình tháng trong năm là 175mm. Mưa tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 9. Mưa thường xảy ra trùng với nước lũ sông Hồng lên cao, gây úng lụt ảnh hưởng xấu đến sản xuất và sinh hoạt của dân cư. Nguồn nước sông Hồng là nguồn nước chủ yếu cung cấp cho việc tưới và bồi đắp một phần phù sa cho đồng ruộng.
Với khí hậu – thủy văn như trên là điều kiện thuận lợi cho sinh trưởng của nhiều loại cây trồng tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nền nông nghiệp đa dạng, phong phú. Song phải có những biện pháp phòng chống hạn úng, đồng thời phải xác định cơ cấu mùa vụ cây trồng hợp lý nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế cao.

Lịch sử

Vào những thế kỷ đầu của công nguyên, Kim Động thuộc quận Giao Chỉ, thời nhà Đinh có tên là Đằng Châu, thời nhà Trần có tên là Kim Động cho đến nay.
Ngày 24 tháng 2 năm 1979, theo Quyết định số 70/CP của Hội đồng Chính phủ, huyện Kim Độngsáp nhập với huyện Ân Thi thành huyện Kim Thi, thuộc tỉnh Hải Hưng. Sau 17 năm hợp nhất, đến tháng 4 năm 1996 thực hiện Nghị định số 05/NĐ-CP ngày 27/01/1996 của Thủ tướng Chính phủ, huyện Kim Thi tách ra thành hai huyện Kim Động và Ân Thi như trước.
Kim Động nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, được phù sa sông Hồng bồi đắp. Trải qua hàng vạn năm, bãi bồi lấn dần ra biển, những người dân Việt cổ men theo những dòng sông, săn bắt thủy sản, phát triển nghề trồng lúa nước để sinh sống. Cùng với sự phát triển kinh tế nông nghiệp, những làng mạc định cư đầu tiên của người Kim Động được dựng lên ven sông Hồng. Trong cuộc đấu tranh với thiên nhiên và trong lao động để tồn tại, những người dân với sức lao động cần cù, chịu khó đã đoàn kết, giúp đỡ nhau khai phá những bãi đồng lầy, dựng làng, lập ấp, gieo lúa, trồng màu để sinh sống. Nhiều làng mạc trong huyện hiện nay vẫn còn chữ Xá (nghĩa là cộng đồng cư dân có chung nguồn gốc): Động Xá, Vĩnh Xá, Vũ Xá, Mai Xá,… Đến nay, nhiều nơi trong huyện vẫn còn tên cổ của làng để ghi công lao những người đầu tiên có công khai lập nên, hoặc ghi nhớ những sự tích của làng, như: làng Nở (Duyên Yên), làng Tè (Tạ Xá), làng Phận (Dưỡng Phú)…
Nhân dân Kim Động mang trong mình dòng máu Lạc Rồng, có truyền thống cần cù trong lao động, dũng cảm trong đấu tranh với thiên nhiên, không chịu khuất phục trước bất cứ kẻ thù nào, đã cùng đồng bào cả nước đánh đuổi hết thù trong giặc ngoài; ngày nay nhân dân Kim Động đang hăng say phấn đấu xây dựng một Kim Động giàu mạnh, phồn thịnh, phấn đấu trở thành huyện tiêu biểu của tỉnh về mọi mặt...
Ngày 23 tháng 9 năm 2003, xã Bảo Khê được sáp nhập vào thị xã Hưng Yên.
Từ ngày 6 tháng 8 năm 2013, các xã Hùng Cường, Phú Cường được sáp nhập vào thành phố Hưng Yên.
Ngoài ra có một xã nữa là Đằng Châu không rõ cách Đồng Thanh mấy cây số. Xã Đằng Châu là nơi Phạm Bạch Hổ đóng giữ.

Kinh tế

Đẩy mạnh thâm canh lúa chất lượng cao.
Là một trong những xã trọng điểm cấy lúa của huyện Kim Động, ngay từ sáng sớm, nhiều hộ dân ở xã Vĩnh Xá đã khẩn trương ra đồng thu hoạch lúa chín của gia đình. Vụ xuân năm nay xã gieo cấy trên 402ha lúa, trong đó có 50% diện tích lúa chất lượng cao. Do gieo cấy đúng khung lịch thời vụ và thực hiện chăm bón, phòng, trừ sâu bệnh tốt nên năng suất lúa chất lượng cao trung bình ước đạt 2,2tạ/sào. Ông Đỗ Văn Quyết ở thôn Đào Xá, xã Vĩnh Xá vừa đưa những bó lúa trĩu hạt lên xe vừa phấn khởi nói: “Vài năm trở lại đây gia đình tôi cấy thâm canh các giống lúa chất lượng cao bởi giá trị kinh tế cao hơn các giống lúa hàng hóa thông thường. Vụ xuân vừa qua tôi cấy khoảng 3 mẫu ruộng, trong đó có 6 sào giống lúa Bắc thơm số 7 và đến nay đã thu hoạch xong cho năng suất khoảng 2- 2,2tạ/sào, cao hơn 20- 30kg/sào so với năm ngoái. Vụ mùa tới đây gia đình tôi sẽ tiếp tục mở rộng diện tích gieo, cấy giống lúa Bắc thơm số 7”.
Phấn đấu hoàn thành kế hoạch trồng cây vụ đông
Vụ đông năm nay được xác định là vụ sản xuất gặp nhiều khó khăn do thời tiết diễn biến bất thường, thời vụ chậm… Tuy nhiên với sự tập trung chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền, nông dân các địa phương trong tỉnh đang tích cực đẩy mạnh sản xuất, phấn đấu hoàn thành chỉ tiêu gieo trồng 13.500ha cây vụ đông đã đề ra.
Vụ đông năm 2013 – 2014, toàn tỉnh gieo trồng trên 12.700ha, ước tính tổng giá trị thu được từ các loại cây trồng vụ đông đạt khoảng 1.830 tỷ đồng. Theo kế hoạch, vụ đông năm nay, toàn tỉnh phấn đấu trồng 13.500 ha cây vụ đông. Theo số liệu của Sở NN và PTNT, tính đến ngày 5.11.2014, toàn tỉnh đã gieo trồng được trên 12.200ha cây vụ đông, đạt trên 90% kế hoạch, trong đó có 4.131ha rau màu các loại, 3.869ha ngô, 1.726ha bí các loại, 917ha đậu tương, 420ha khoai tây… Hiện nay đã có 2 huyện hoàn thành vượt mức chỉ tiêu diện tích cây vụ đông là huyện Yên Mỹ với 990ha, đạt 124% kế hoạch và huyện Văn Giang với 1.157ha, đạt 105% kế hoạch tỉnh giao. Các địa phương còn lại đang tiếp tục mở rộng diện tích cây vụ đông, một số địa phương diện tích trồng cây vụ đông còn thấp như: huyện Mỹ Hào gieo trồng 103ha, đạt 52% kế hoạch tỉnh giao; thành phố Hưng Yên gieo trồng gần 1.300ha, đạt 76% kế hoạch tỉnh giao… Thời điểm này một số loại cây trồng vụ đông sớm đã cho thu hoạch như: các loại cây rau màu, bí ngô (quả non), dưa chuột, cà chua… Để tiếp sức cho nhà nông tiếp tục duy trì và mở rộng diện tích trồng cây vụ đông, năm nay, UBND tỉnh đã phê duyệt kế hoạch hỗ trợ kinh phí giống chất lượng cao cho các huyện, thành phố vụ đông năm 2014 - 2015 với tổng kinh phí khoảng 9,6 tỷ đồng, bao gồm: cây lạc với diện tích hỗ trợ 198 ha, mức hỗ trợ là 11.000.000 đồng/ha, cây đậu tương với diện tích hỗ trợ là 710 ha, mức hỗ trợ là 2.400.000 đồng/ha, cây ngô nếp lai với diện tích hỗ trợ 1.100 ha, mức hỗ trợ là 1.500.000 đồng/ha, cây khoai tây với diện tích hỗ trợ 300 ha, mức hỗ trợ 10.000.000 đồng/ha, cây bí ngô lai F1 với diện tích hỗ trợ là 450 ha, mức hỗ trợ là 1.700.000 đồng/ha. Ngoài ra, tỉnh còn hỗ trợ kinh phí tổ chức tập huấn kỹ thuật về biện pháp sản xuất, thâm canh giống mới và kinh phí hỗ trợ hội thảo đầu bờ, thăm quan học tập mô hình tiêu biểu.
Nông dân xã Phú Thịnh (Kim Động) chăm sóc cây dưa chuột
Nông dân xã Phú Thịnh (Kim Động) chăm sóc cây dưa chuột
Để bảo đảm mục tiêu gieo trồng trên 1.800ha cây vụ đông do tỉnh giao, huyện Kim Động đã chủ động xây dựng kế hoạch sản xuất vụ đông ngay từ sớm để các địa phương có phương án sản xuất cụ thể, bố trí cơ cấu giống phù hợp, chủ động quỹ đất trồng cây vụ đông. Đến ngày 4.11, huyện đã gieo trồng được trên 1.428ha cây vụ đông, trong đó: ngô là 690ha, đậu tương 140,5ha; bí các loại 240,8ha; dưa chuột 60,7ha; khoai lang 38ha; rau các loại 180ha, lạc 28ha; khoai tây 35ha…, đạt gần 80% kế hoạch tỉnh giao. Một số xã có phong trào sản xuất vụ đông mạnh hiện nay đã hoàn thành và hoàn thành vượt mức chỉ tiêu như: xã Vĩnh Xá gieo trồng 165ha, đạt 147,3% kế hoạch; xã Phú Thịnh gieo trồng 180ha, đạt 106% kế hoạch; xã Đức Hợp gieo trồng 212,6ha, đạt 108% kế hoạch...
Anh Hoàng Văn Minh, Phó Phòng NN và PTNT huyện Kim Động cho biết: “Để duy trì ổn định sản xuất vụ đông, Kim Động đã tập trung đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động về các cơ chế, chính sách hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất, hỗ trợ sản xuất cây vụ đông tới đông đảo nông dân. Đồng thời, đẩy mạnh phát triển các cây trồng hàng hóa có giá trị kinh tế cao như: khoai tây, bí ngô, dưa chuột…, xây dựng các vùng sản xuất tập trung, tăng cường áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật để tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, qua đó nâng cao hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích. Việc hỗ trợ kinh phí của tỉnh, huyện cho nông dân được huyện quan tâm thực hiện đầy đủ, kịp thời đã động viên, khuyến khích nông dân mở rộng diện tích gieo trồng cây vụ đông”.
Vụ đông năm nay, toàn huyện Văn Lâm phấn đấu gieo trồng 600ha, trong đó chủ yếu là: khoai tây, cà chua, khoai lang, lạc, rau các loại… Đến thời điểm này, huyện đã gieo trồng được 529ha cây vụ đông, đạt 88% kế hoạch tỉnh giao. Anh Đào Quang Huy, Trưởng phòng NN và PTNT huyện Văn Lâm cho biết: “Xác định vụ đông là vụ sản xuất chính trong năm nhằm tăng thu nhập cho nông dân nên quan điểm chỉ đạo của huyện là duy trì các loại cây trồng truyền thống, tích cực chuyển đổi, đưa các cây trồng có năng suất, chất lượng cao, đầu ra cho sản phẩm ổn định vào sản xuất trên đất chuyên màu và đẩy mạnh thâm canh trên đất hai lúa”. Mặc dù những năm gần đây, việc mở rộng diện tích cây vụ đông ở Văn Lâm gặp nhiều khó khăn do đầu ra của sản phẩm, trong khi đó, trên địa bàn huyện hiện đang phát triển nhiều khu công nghiệp, ngành nghề phụ khiến nông dân không mặn mà với cây vụ đông. Tuy nhiên huyện vẫn nỗ lực để hoàn thành chỉ tiêu diện tích cây vụ đông do tỉnh giao”.
Thời điểm này đã vào giữa vụ đông năm 2014 – 2015, từ nay đến cuối vụ các huyện, thành phố cần tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền, đôn đốc nông dân mở rộng diện tích sản xuất vụ đông, tránh tình trạng để đất trống, gây lãng phí. Chú ý lựa chọn sản xuất các loại cây rau màu thích hợp còn trong khung thời vụ cho phép, đặc biệt là nhóm cây ưa lạnh như: cà chua, khoai tây, su hào, cải bắp, các loại rau ăn lá... bảo đảm cân đối diện tích, sản lượng các loại rau gieo trồng với nhu cầu thị trường, để rải vụ, tránh dư thừa sản phẩm, khó tiêu thụ, ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất.
Phấn đấu hoàn thành kế hoạch trồng cây vụ đông
Vụ đông năm nay được xác định là vụ sản xuất gặp nhiều khó khăn do thời tiết diễn biến bất thường, thời vụ chậm… Tuy nhiên với sự tập trung chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền, nông dân các địa phương trong tỉnh đang tích cực đẩy mạnh sản xuất, phấn đấu hoàn thành chỉ tiêu gieo trồng 13.500ha cây vụ đông đã đề ra.
Vụ đông năm 2013 – 2014, toàn tỉnh gieo trồng trên 12.700ha, ước tính tổng giá trị thu được từ các loại cây trồng vụ đông đạt khoảng 1.830 tỷ đồng. Theo kế hoạch, vụ đông năm nay, toàn tỉnh phấn đấu trồng 13.500 ha cây vụ đông. Theo số liệu của Sở NN và PTNT, tính đến ngày 5.11.2014, toàn tỉnh đã gieo trồng được trên 12.200ha cây vụ đông, đạt trên 90% kế hoạch, trong đó có 4.131ha rau màu các loại, 3.869ha ngô, 1.726ha bí các loại, 917ha đậu tương, 420ha khoai tây… Hiện nay đã có 2 huyện hoàn thành vượt mức chỉ tiêu diện tích cây vụ đông là huyện Yên Mỹ với 990ha, đạt 124% kế hoạch và huyện Văn Giang với 1.157ha, đạt 105% kế hoạch tỉnh giao. Các địa phương còn lại đang tiếp tục mở rộng diện tích cây vụ đông, một số địa phương diện tích trồng cây vụ đông còn thấp như: huyện Mỹ Hào gieo trồng 103ha, đạt 52% kế hoạch tỉnh giao; thành phố Hưng Yên gieo trồng gần 1.300ha, đạt 76% kế hoạch tỉnh giao… Thời điểm này một số loại cây trồng vụ đông sớm đã cho thu hoạch như: các loại cây rau màu, bí ngô (quả non), dưa chuột, cà chua… Để tiếp sức cho nhà nông tiếp tục duy trì và mở rộng diện tích trồng cây vụ đông, năm nay, UBND tỉnh đã phê duyệt kế hoạch hỗ trợ kinh phí giống chất lượng cao cho các huyện, thành phố vụ đông năm 2014 - 2015 với tổng kinh phí khoảng 9,6 tỷ đồng, bao gồm: cây lạc với diện tích hỗ trợ 198 ha, mức hỗ trợ là 11.000.000 đồng/ha, cây đậu tương với diện tích hỗ trợ là 710 ha, mức hỗ trợ là 2.400.000 đồng/ha, cây ngô nếp lai với diện tích hỗ trợ 1.100 ha, mức hỗ trợ là 1.500.000 đồng/ha, cây khoai tây với diện tích hỗ trợ 300 ha, mức hỗ trợ 10.000.000 đồng/ha, cây bí ngô lai F1 với diện tích hỗ trợ là 450 ha, mức hỗ trợ là 1.700.000 đồng/ha. Ngoài ra, tỉnh còn hỗ trợ kinh phí tổ chức tập huấn kỹ thuật về biện pháp sản xuất, thâm canh giống mới và kinh phí hỗ trợ hội thảo đầu bờ, thăm quan học tập mô hình tiêu biểu.
Nông dân xã Phú Thịnh (Kim Động) chăm sóc cây dưa chuột
Nông dân xã Phú Thịnh (Kim Động) chăm sóc cây dưa chuột
Để bảo đảm mục tiêu gieo trồng trên 1.800ha cây vụ đông do tỉnh giao, huyện Kim Động đã chủ động xây dựng kế hoạch sản xuất vụ đông ngay từ sớm để các địa phương có phương án sản xuất cụ thể, bố trí cơ cấu giống phù hợp, chủ động quỹ đất trồng cây vụ đông. Đến ngày 4.11, huyện đã gieo trồng được trên 1.428ha cây vụ đông, trong đó: ngô là 690ha, đậu tương 140,5ha; bí các loại 240,8ha; dưa chuột 60,7ha; khoai lang 38ha; rau các loại 180ha, lạc 28ha; khoai tây 35ha…, đạt gần 80% kế hoạch tỉnh giao. Một số xã có phong trào sản xuất vụ đông mạnh hiện nay đã hoàn thành và hoàn thành vượt mức chỉ tiêu như: xã Vĩnh Xá gieo trồng 165ha, đạt 147,3% kế hoạch; xã Phú Thịnh gieo trồng 180ha, đạt 106% kế hoạch; xã Đức Hợp gieo trồng 212,6ha, đạt 108% kế hoạch...
Anh Hoàng Văn Minh, Phó Phòng NN và PTNT huyện Kim Động cho biết: “Để duy trì ổn định sản xuất vụ đông, Kim Động đã tập trung đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động về các cơ chế, chính sách hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất, hỗ trợ sản xuất cây vụ đông tới đông đảo nông dân. Đồng thời, đẩy mạnh phát triển các cây trồng hàng hóa có giá trị kinh tế cao như: khoai tây, bí ngô, dưa chuột…, xây dựng các vùng sản xuất tập trung, tăng cường áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật để tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, qua đó nâng cao hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích. Việc hỗ trợ kinh phí của tỉnh, huyện cho nông dân được huyện quan tâm thực hiện đầy đủ, kịp thời đã động viên, khuyến khích nông dân mở rộng diện tích gieo trồng cây vụ đông”.
Vụ đông năm nay, toàn huyện Văn Lâm phấn đấu gieo trồng 600ha, trong đó chủ yếu là: khoai tây, cà chua, khoai lang, lạc, rau các loại… Đến thời điểm này, huyện đã gieo trồng được 529ha cây vụ đông, đạt 88% kế hoạch tỉnh giao. Anh Đào Quang Huy, Trưởng phòng NN và PTNT huyện Văn Lâm cho biết: “Xác định vụ đông là vụ sản xuất chính trong năm nhằm tăng thu nhập cho nông dân nên quan điểm chỉ đạo của huyện là duy trì các loại cây trồng truyền thống, tích cực chuyển đổi, đưa các cây trồng có năng suất, chất lượng cao, đầu ra cho sản phẩm ổn định vào sản xuất trên đất chuyên màu và đẩy mạnh thâm canh trên đất hai lúa”. Mặc dù những năm gần đây, việc mở rộng diện tích cây vụ đông ở Văn Lâm gặp nhiều khó khăn do đầu ra của sản phẩm, trong khi đó, trên địa bàn huyện hiện đang phát triển nhiều khu công nghiệp, ngành nghề phụ khiến nông dân không mặn mà với cây vụ đông. Tuy nhiên huyện vẫn nỗ lực để hoàn thành chỉ tiêu diện tích cây vụ đông do tỉnh giao”.
Thời điểm này đã vào giữa vụ đông năm 2014 – 2015, từ nay đến cuối vụ các huyện, thành phố cần tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền, đôn đốc nông dân mở rộng diện tích sản xuất vụ đông, tránh tình trạng để đất trống, gây lãng phí. Chú ý lựa chọn sản xuất các loại cây rau màu thích hợp còn trong khung thời vụ cho phép, đặc biệt là nhóm cây ưa lạnh như: cà chua, khoai tây, su hào, cải bắp, các loại rau ăn lá... bảo đảm cân đối diện tích, sản lượng các loại rau gieo trồng với nhu cầu thị trường, để rải vụ, tránh dư thừa sản phẩm, khó tiêu thụ, ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất.

Văn hóa du lịch

ĐỀN ĐÀO XÁ
Thôn Đào Xá cùng với hai thôn Ngô Xá và Vĩnh Hậu hợp thành xã Vĩnh Xá. Đây là một thôn lớn có cả đình, chùa, miếu, đền do cư dân theo đạo Phật và một nhà thờ của đạo theo Thiên chúa giáo.
Đền Đào Xá có tên xưa là đền Sướng Thiện, là Tam Giáo Động, được xây dựng ở đầu thôn trên một khu đất cao, thoáng mát từ thập niên đầu thế kỷ XIX. Theo các cụ cao tuổi nhất ở đây kể lại, khoảng năm 1896, cụ Từ trông coi đèn nhang đã sang đền Bạch Mã thuộc huyện Phú Xuyên tỉnh Hà Đông cũ xin tên hèm để thờ, đặt tên cho đền là Sướng Thiện. Từ đó nhân dân trong vùng tìm đến đây lễ bái cầu phúc, hướng thiện và xin thuốc nam về chữa bệnh.
Đền được xây dựng theo kiến trúc điêu khắc thời Nguyễn muộn có vòm cuốn bê tông và hình khối nội công ngoại quốc. Đến năm 1929 , nhân dân lại đóng góp công sức và tiền của tu tạo lại đền cho bề thế, khang trang hơn. Khi hội Tam Thánh ra đời, đền thờ Phật – Tiên – Thánh, 3 vị giáo tổ và thờ vọng những vị anh hùng dân tộc đã có công cầm quân chống ngoại xâm như Trần Hưng Đạo, Phạm Ngũ Lão. Tên đền Sướng Thiện hay Tam Giác Động nói lên ý tưởng và tâm nguyện về điều thiện, hành động theo điều thiện. Sau này, tên đền được gọi theo tên thôn: Đền Đào Xá. Đào chính là tên một dòng họ có người đến khai phá vùng đất này sớm nhất và cũng là họ phát triển đông đúc nhất thời ấy.
Thời kỳ 1939 – 1945 Đảng ta vận động đấu tranh cách mạng trong sự khủng bố, lùng sục gắt gao của chính quyền thực dân đền Đào Xá là một trong những cơ sở cất giấu tài liệu của Đảng bộ Hưng Yên. Trong cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 nhiều cuộc mít tinh hội họp lớn của xã đã được tổ chức tại đền. Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp diễn ra ác liệt, vùng đất này từng có thời gian bị địch chiếm đóng, đền Đào Xá lại là nơi cán bộ ta đặt chân an toàn để phát triển phong trào đóng vai người đến đền cúng lễ, khi lại là người lên đền xin lá thuốc về chữa bệnh cho người nhà. Trong đền có hầm bí mật nuôi giấu cán bộ. Hòn Non bộ đắp nổi giữa hồ nước trong khuôn viên với mục đích cất giấu tài liệu nên được tạo dáng nhiều hang lạch ăn sâu vào giữa khối đá giả sơn trông lạ mắt mà kín đáo.
Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, Bộ Tư lệnh Quân khu III đã về đây mở Hội nghị Quân chính bàn việc chống chiến tranh phá hoại của địch và các chủ trương biện pháp chi viện cho chiến trường miền Nam. Tiếp đó, Bộ Y tế lại chọn đền Đào Xá làm địa điểm sơ tán cho xí nghiệp Dược phẩm.
Đền Đào Xá còn lưu giữ được nhiều hiện vật quý, ngoài Hòn Non bộ xây đắp công phu, phải kể đến 24 pho tượng mỗi pho đều có vẻ hấp dẫn riêng. Nhiều đồ tế tự có giá trị điêu khắc như pho kiệu Ngọc Bộ, ngai, cửa võng, câu đối cùng với nhiều cổ vật quý hiếm nh lọ độc bình, lọ hoa, choé, bát hương…
Đền Đào Xá được Nhà nước công nhận Di tích lịch sử và nghệ thuật cấp quốc gia theo Quyết định số 1570 ngày 5/9/1989 của Bộ Văn hoá và Thông tin.
ĐÌNH , CHÙA, MIẾU NGÔ XÁ
Thông Ngô Xá thuộc xã Vĩnh Xá có cả đình, chùa và miếu tạo thành một cụm di tích kiến trúc nghệ thuật độc đáo. Theo các cụ cao tuổi kể lại thì Ngô Xá từ rất lâu đã có tiếng vang là vùng đất hợp với cây ngô. Bao giờ ngô ở đây cũng xanh tốt, hạt mẩy và to, năng suất cao, do vậy mà có tên là làng Ngô (Ngô Xá). Cả đình, chùa, miếu đều được gọi theo tên làng. Riêng ngôi chùa có tên chữ là “Ninh Khánh Tự”.
Theo dân gian trong vùng truyền tụng, cả cụm di tích này đều do thầy địa lý Tả Ao chọn thế đất rồng chầu hổ phục, chỗ cao thoáng gió, ở ngay đầu làng trước mặt có dòng thông thuỷ gồm cả ao, hồ và sông. Cụm di tích được xây dựng vào thời Hậu Lê, đến thời Nguyễn được trùng tu lại. Chùa thờ Phật, đình và miếu đều thờ Tam vị Đại Vương: Đông Thiện Sùng Tín Đại Vương, Đông Chinh Thiện Môn Đại Vương và Tây Chinh Điạ Phủ Đại Vương. Lễ hội hàng năm được tổ chức vào các ngày 10/3 và 8/8 âm lịch.
Dân gian truyền lại theo thần tích như sau: Những năm bên Trung Hoa loạn li, có một người tên là Sùng Quang quê tận Long Hưng bên Tầu chạy sang cư trú ở xã Phúc Bái, huyện Quốc Oai, phủ Linh Sơn, tỉnh Sơn Tây. Tại Phúc Bái ông đã làm bạn với bà Nguyệt. Gia đình sống trong đầm ấm hạnh phúc và làm nghề cắt thuốc chữa bệnh cho nhân dân. Chữa bệnh cho người nghèo khó ông bà không thu tiền mà còn nuôi ăn. Nhân dân khắp vùng đều ngợi khen vợ chồng ông là nhân đức. Song hiềm một nỗi vợ choong ông đã cao tuổi rồi mà con cái vẫn chưa có.
Đến thời gian đất nước ta rơi vào cảnh loạn ly, 12 sứ quân tranh giành quyền lực gây bao tang tóc cho dân lành. Vợ chộng ông Sùng Quang phải chạy sang Ngô Xá Trang (tên gọi cỏ của thôn Ngô Xá ngày nay), thuộc phủ Khoái Châu, làm nhà ở nhờ trong khu chùa Ngô Xá. Tại đây ông bà vẫn làm nghề bốc thuốc và nông tang làm kế sinh nhai. Ông bà thường lên chùa lễ Phật cầu tự. Trong một đêm mưa gió bão bùng bà nằm mơ thấy mình sinh đựơc ba con trai khôi ngô tuấn tú, văn võ tài ba. Như mộng bá, một thời gián sau bà mang thai và sinh được ba người con trai và đặt tên con trai là: Trưởng Viết Sùng Công, Thứ Viết Quách Công và Thứ Viết Thiện Công. Cuộc sống của ông bà bây giờ đã đầm ấm hạnh phúc thực sự.
Thần tích ghi tiếp: Ông bà cho cả ba con theo học một đạo sĩ nổi tiến thời bấy giờ. Cả ba người đều được bạn bè trong xã kính nể và yêu mến. Khi ba anh em vào tuổi 18 thì cả cha mẹ đều lâm bệnh tạ thế, ba anh em thương xót làm lễ an táng cho cha mẹ ngay bên cạnh chùa và lập đàn làm lễ cầu siêu báo đáp công ơn. Ba anh ẹm phải tảo tần làm ăn và vẫn nhiệt tâm học hành văn võ. Ba anh em dựng một ngôi quán ở gốc đa đầu làng bán cơm rượu. Chính nơi quán đó đã trở thành chỗ hội tụ của thanh niên trai tráng và các bậc anh hào. Cũng thời kỳ này, nội chiến giữa 12 sứ quân kéo dài gây cho dân ta cảnh nồi da nấu thịt. Đinh Bộ Lĩnh là một trong những sứ quân mạnh và uy tín nhất đóng đô ở Hoa Lư, đã cho tướng Nguyễn Bậc đem quân đi dẹp loạn. Đến đất Ngô Xá thì trời đã tốt. Nguyễn Bậc cho quân sĩ nghỉ tại đây, ba anh dem Sùng Công biết được liền chiêu tập binh sĩ được hơn ba trăm người gồm Phượng Lâu 5, An Tàô 10, An Xá 45, Vĩnh Đồng 45, Dưỡng Phú 51, Cốc Khê Tạ Xá 55, Đào Xá 36 và trang sở tại 55 người, rồi các ông đem quân đến yết kiến tướng Nguyễn Bậc. Thấy được nhiệt tình của ba anh em họ Sùng, Nguyễn Bậc cùng họ đoàn kết làm anh em như trong một bọc. Sau đó họ cùng nhau kéo quân về kinh đôthành Hoa Lư yết kiến vua Đinh.
Dưới sự chỉ huy của ba vị tướng trẻ Sùng Công, quân sĩ đi tới đâu cũng được nhân dân ủng hộ, quân giặc nghe tiếng phải bỏ giáo quy đầu hàng. Các đạo quân phiến loạn tan giã một cách nhanh chóng, giang sơn thu về một mối, dân tộc chấm dứt cảnh chém giết lẫn nhau. Trong niềm vui và phấn khởi tràn ngập kinh thành Hoa Lư, Đinh Tiên Hoàng ca ngợi tinh thần chiến đấu dũng cảm của ba quân, ca ngợi trí thông minh và đức độ của ba anh em Sùng Công. Vua Đinh đã phong tặng Sùng Công làm Trưởng Án Nội Các, Quách Công làm Kim Thiên Môn Điện, Thiện Công làm Tây Chính Trấn Ngự Phủ Điện.
Sau khi nhận chức trong triều được 12 năm, ba ông đã dâng biểu sớ xin triều đình cho về Ngô Xá thăm quê hương và mộ phần cha mẹ, nhà vua cảm kích đã cho ba ông vàng 55 hốt, áo bào 1 cuộn. Người dân địa phương vô cùng phấn chấn khi gặp lại ba ông. Trong niềm vui đó, ba ông đã tặng nhân dân Ngô Xá 300 hốt vàng để lập đình miếu, sửa sang lại ngôi chùa. Qua một thời gian, ba ông đã mất tại xã. Tại ngôi miếu, nhân dân đã tạc tượng ba ông để tôn thờ. Trên bài vị đặt trong khám trước ban thờ, tên ba ông vẫn ngời sáng. Ngày sinh của ba ông là 10/3, ngày mất là 9/8. Vào những ngày này nhân dân gần xa thường đến thắp hương tế lễ, rước kiệu tôn vinh những tấm gương cao đẹp, đã hiến dâng tất cả sức lực trí tuệ của mình để bảo vệ nền độc lập dân tộc.
Để bảo lưu đạo lý tốt đẹp của ba ông, các triều đại sau đó đều phong sắc để nhân dân thờ phụng và học tập. Theo truyền ngôn, thế kỷ XX, khi tiến quân đi đánh giặc Minh qua đây Thái uý Lê Lợi vào thắp hương, được ba ông báo mộng phù giúp, Lê Lợi như được tiếp thêm sức mạnh khi vào trận ông đã giành được thắng lợi lớn.
Phát huy truyền thống đó, trong kháng chiến chống thực dân Pháp, những di tích này đều là cơ sở che giấu bảo vệ cán bộ, bộ đội góp phần đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi. Đến nay đất nước đã đổi mới, các di tích được trở về đúng vị trí là nơi sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng của làng. Trong những ngày lễ hội, đình chùa, miếu đền, nhân dân tập trung ở di tích này rất đông vui, hào hứng cùng nhau tiến hành tế lễ, rước kiệu và vui chơi với các hình thức văn hóa thể thao sinh động.
Các hiện vật trong cụm di tích hiện còn: hai kiệu bát cống, hai kiệu long đình sơn son thiếp vàng; một bát hương sứ cao 0,38m, đường kính miệng rộng 0,6m năm Bảo Đại thứ 5; một chuông đồng cao 0,85m đường kính miệng rộng 0,42m, một bộ bát bửu, một bộ long đao 8 chiếc; bốn cây đèn lồng và bốn cây đèn gỗ; 6 cỗ ngai, ba ở đình, ba ở miếu đều sơn son thiếp vàng; 16 pho tượng phật ở chùa, 3 pho tượng thần ở miếu; một cầu đá thời Lê gồm 6 tấm đá rộng 0,45m dài 1,05m; 3 bàn thờ gỗ sơn son với riềm chạm dây hoa cỡ 1,4 × 0,6m; 16 cột đá cỡ 2,2 × 0,25; 13 đạo sắc phong thời Lê và thời Nguyễn; một giá gương gỗ sơn son thiếp vàng chạm long vân, 8 đại tự sơn son thiếp vàng và 4 đôi câu đối rất cổ kính. Cụm đình, chùa, miếu Ngô Xá được Nhà nước xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia theo Quyết định số 634 ngày 11/5/1993 của Bộ Văn hoá Thông tin.
Một số đặc sản của Hưng Yên là nhãn lồng, mật ong hoa nhãn, long nhãn, Cá mòi sông Hồng, hạt sen, bún thang lươn, Đặc sản gà Đông Tảo Hưng Yên, Tương Bần, bánh giày, chả gà tiêu quán, ếch om Phượng Toàn, bún khô Vĩnh Thọ...
Thông tin về Xã Toàn Thắng (cũ - trước sáp nhập):
Toàn Thắng là 1 xã của huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên, nước Việt Nam.

Các số điện thoại quan trọng


Bưu điện Kim Động: (0221)3811135.
UBND Tỉnh Hưng Yên: (0221) 3863823 - 3862750
BVĐK Huyện Kim Động: +84 321 3862 406
Taxi Mai Linh Hưng Yên: 03213.52.52.52
Khách sạn Phố Hiến Hưng Yên: 84 321 3862 909
NH nông nghiệp và phát triển nông thôn: 063 3828364
Phòng vé hàng không VN: 063 3825413

Địa lý thời tiết

Diện Tích: 7,13 km²
Tổng số dân: 9.249 người năm 1999.
Tọa độ: 20°47′25″B 106°2′1″Đ
Mang đặc điểm của khí hậu đồng bằng sông Hồng: nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh hơn nhiều so với điều kiện trung bình vĩ tuyến; thời kỳ đầu của mùa đông tương đối khô, nửa cuối thì ẩm ướt, mùa hạ nóng ẩm, nhiều mưa, khí hậu biến động mạnh.
Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,20c. Mùa hè nhiệt độ trung bình 30 – 320c; cao nhất vào tháng 6 và 7 nhiệt độ có khi lên tới 380c. Mùa đông nhiệt độ trung bình 17-220c; thấp nhất vào tháng 1 và 2 nhiệt độ 8-100c. Tổng tích ôn trung bình hàng năm là 85030c.
Độ ẩm không khí trung bình hàng năm xấp xỉ 85%, cao nhất 90,6%, thấp nhất 60%. Tháng 3 là tháng ẩm nhất và tháng 11 là tháng khô nhất.
Tổng lượng mưa trung bình hàng năm 1700mm. Lượng mưa trung bình tháng trong năm là 175mm. Mưa tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 9. Mưa thường xảy ra trùng với nước lũ sông Hồng lên cao, gây úng lụt ảnh hưởng xấu đến sản xuất và sinh hoạt của dân cư. Nguồn nước sông Hồng là nguồn nước chủ yếu cung cấp cho việc tưới và bồi đắp một phần phù sa cho đồng ruộng.
Với khí hậu – thủy văn như trên là điều kiện thuận lợi cho sinh trưởng của nhiều loại cây trồng tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nền nông nghiệp đa dạng, phong phú. Song phải có những biện pháp phòng chống hạn úng, đồng thời phải xác định cơ cấu mùa vụ cây trồng hợp lý nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế cao.

Lịch sử

Vào những thế kỷ đầu của công nguyên, Kim Động thuộc quận Giao Chỉ, thời nhà Đinh có tên là Đằng Châu, thời nhà Trần có tên là Kim Động cho đến nay.
Ngày 24 tháng 2 năm 1979, theo Quyết định số 70/CP của Hội đồng Chính phủ, huyện Kim Độngsáp nhập với huyện Ân Thi thành huyện Kim Thi, thuộc tỉnh Hải Hưng. Sau 17 năm hợp nhất, đến tháng 4 năm 1996 thực hiện Nghị định số 05/NĐ-CP ngày 27/01/1996 của Thủ tướng Chính phủ, huyện Kim Thi tách ra thành hai huyện Kim Động và Ân Thi như trước.
Kim Động nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, được phù sa sông Hồng bồi đắp. Trải qua hàng vạn năm, bãi bồi lấn dần ra biển, những người dân Việt cổ men theo những dòng sông, săn bắt thủy sản, phát triển nghề trồng lúa nước để sinh sống. Cùng với sự phát triển kinh tế nông nghiệp, những làng mạc định cư đầu tiên của người Kim Động được dựng lên ven sông Hồng. Trong cuộc đấu tranh với thiên nhiên và trong lao động để tồn tại, những người dân với sức lao động cần cù, chịu khó đã đoàn kết, giúp đỡ nhau khai phá những bãi đồng lầy, dựng làng, lập ấp, gieo lúa, trồng màu để sinh sống. Nhiều làng mạc trong huyện hiện nay vẫn còn chữ Xá (nghĩa là cộng đồng cư dân có chung nguồn gốc): Động Xá, Vĩnh Xá, Vũ Xá, Mai Xá,… Đến nay, nhiều nơi trong huyện vẫn còn tên cổ của làng để ghi công lao những người đầu tiên có công khai lập nên, hoặc ghi nhớ những sự tích của làng, như: làng Nở (Duyên Yên), làng Tè (Tạ Xá), làng Phận (Dưỡng Phú)…
Nhân dân Kim Động mang trong mình dòng máu Lạc Rồng, có truyền thống cần cù trong lao động, dũng cảm trong đấu tranh với thiên nhiên, không chịu khuất phục trước bất cứ kẻ thù nào, đã cùng đồng bào cả nước đánh đuổi hết thù trong giặc ngoài; ngày nay nhân dân Kim Động đang hăng say phấn đấu xây dựng một Kim Động giàu mạnh, phồn thịnh, phấn đấu trở thành huyện tiêu biểu của tỉnh về mọi mặt...
Ngày 23 tháng 9 năm 2003, xã Bảo Khê được sáp nhập vào thị xã Hưng Yên.
Từ ngày 6 tháng 8 năm 2013, các xã Hùng Cường, Phú Cường được sáp nhập vào thành phố Hưng Yên.
Ngoài ra có một xã nữa là Đằng Châu không rõ cách Đồng Thanh mấy cây số. Xã Đằng Châu là nơi Phạm Bạch Hổ đóng giữ.

Kinh tế

Xã Toàn Thắng (Kim Động): Hoạt động tiểu thủ công nghiệp, làng nghề thu hút 1.500 lao động
Xã Toàn Thắng (Kim Động) hiện có trên 1 nghìn hộ gia đình tham gia sản xuất kinh doanh các ngành nghề như: mộc, xây dựng, chế biến lương thực và đặc biệt là sản xuất rượu truyền thống của làng nghề Trương Xá. Các hoạt động tiểu thủ công nghiệp, làng nghề đã tạo việc làm với thu nhập cao, ổn định cho hơn 1.500 lao động địa phương. Theo ước tính của xã, thu nhập từ hoạt động ngành nghề, tiểu thủ công nghiệp năm 2008 đạt 32 tỷ đồng, tăng 5 tỷ đồng so với năm 2007. Bên cạnh đó, hoạt động vận tải hàng hoá và dịch vụ thương mại cũng phát triển mạnh mẽ. Đến nay toàn xã đã có trên 40 chiếc xe ô tô vận tải hàng hoá và chở khách. Ước tính thu nhập từ vận tải và dịch vụ thương mại đạt 33 tỷ đồng.
Xã phấn đấu trong năm 2009, các hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp, làng nghề và dịch vụ thương mại phát triển với mức tăng trưởng từ 22% – 25%, thu hút 1.300 hộ gia đình tham gia và tạo việc làm cho 2 nghìn lao động địa phương.

Văn hóa du lịch

ĐÌNH AN XÁ
Đình An Xá xây dựng theo hướng Tây trên thế đất “con quy” nằm ngay giữa làng An Xá, xã Toàn Thắng.
Đình thờ An Công, Dực Công là tướng của vua Hùng thứ 18, hai vị có công đánh giặc cứu nước đem lại cuộc sống thanh bình cho nhân dân. Sau khi mất, hai ngài đều hiển ứng giúp nước cứu dân, được nhân dân tôn làm Thành Hoàng làng ngàn năm thờ phụng.
Đình được khởi công xây dựng từ xa xưa, trải qua các triều đại ngôi đình đều được trùng tu. Kiến trúc hiện nay được giữ nguyên sau lần trùng tu lớn vào năm Bảo Đại Tân Tỵu (1941), kết cấu kiểu “nội công ngoại Quốc” với các hạng mục tương đối đồng bộ gồm: Đại bái, ống muống và hậu cung, hai bên là hai dãy dải vũ. Các mảng chạm khắc được tập trung chủ yếu ở toà đại bái với các đề tài tứ linh, tứ quý rất công phu và tỉ mỉ.
Đình còn lưu giữ được nhiều hiện vật, cổ vật có giá trị như:5 đạo sắc phong các thời Lê, Nguyễn, choé sứ, nhang án, khám thờ.
Đình An Xá được Nhà nước xếp hạng di tích: “Lịch sử văn hoá và kiến trúc nghệ thuật” cấp quốc gia năm 1994
Một số đặc sản của Hưng Yên là nhãn lồng, mật ong hoa nhãn, long nhãn, Cá mòi sông Hồng, hạt sen, bún thang lươn, Đặc sản gà Đông Tảo Hưng Yên, Tương Bần, bánh giày, chả gà tiêu quán, ếch om Phượng Toàn, bún khô Vĩnh Thọ...
Phường / Xã / Thị trấn cùng tên Toàn Thắng:

Thông tin về Xã Nghĩa Dân (cũ - trước sáp nhập):
Nghĩa Dân là 1 xã của huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên, nước Việt Nam.

Các số điện thoại quan trọng


Bưu điện Kim Động: (0221)3811135.
UBND Tỉnh Hưng Yên: (0221) 3863823 - 3862750
BVĐK Huyện Kim Động: +84 321 3862 406
Taxi Mai Linh Hưng Yên: 03213.52.52.52
Khách sạn Phố Hiến Hưng Yên: 84 321 3862 909
NH nông nghiệp và phát triển nông thôn: 063 3828364
Phòng vé hàng không VN: 063 3825413

Địa lý thời tiết

Diện Tích: 4,5 km²
Tổng số dân: 5.925 người năm 1999.
Tọa độ: 20°47′55″B 106°3′4″Đ
Phía bắc giáp với xã Xuân Trúc huyện Ân Thi. Phía đông giáp các xã Quảng Lãng, xã Đặng Lễ của huyện Ân Thi. phía nam và đông nam giáp các xã Phạm Ngũ Lão, Nhân La. phía tây và tây nam giáp các xã Phạm Ngũ Lão và Toàn Thắng.
Xã Nghĩa Dân có 4 thôn gồm: Thôn Đào Lâm, Thôn Đào Xá, Thôn Thổ Cầu và Thôn Trúc Cầu
Mang đặc điểm của khí hậu đồng bằng sông Hồng: nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh hơn nhiều so với điều kiện trung bình vĩ tuyến; thời kỳ đầu của mùa đông tương đối khô, nửa cuối thì ẩm ướt, mùa hạ nóng ẩm, nhiều mưa, khí hậu biến động mạnh.
Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,20c. Mùa hè nhiệt độ trung bình 30 – 320c; cao nhất vào tháng 6 và 7 nhiệt độ có khi lên tới 380c. Mùa đông nhiệt độ trung bình 17-220c; thấp nhất vào tháng 1 và 2 nhiệt độ 8-100c. Tổng tích ôn trung bình hàng năm là 85030c.
Độ ẩm không khí trung bình hàng năm xấp xỉ 85%, cao nhất 90,6%, thấp nhất 60%. Tháng 3 là tháng ẩm nhất và tháng 11 là tháng khô nhất.
Tổng lượng mưa trung bình hàng năm 1700mm. Lượng mưa trung bình tháng trong năm là 175mm. Mưa tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 9. Mưa thường xảy ra trùng với nước lũ sông Hồng lên cao, gây úng lụt ảnh hưởng xấu đến sản xuất và sinh hoạt của dân cư. Nguồn nước sông Hồng là nguồn nước chủ yếu cung cấp cho việc tưới và bồi đắp một phần phù sa cho đồng ruộng.
Với khí hậu – thủy văn như trên là điều kiện thuận lợi cho sinh trưởng của nhiều loại cây trồng tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nền nông nghiệp đa dạng, phong phú. Song phải có những biện pháp phòng chống hạn úng, đồng thời phải xác định cơ cấu mùa vụ cây trồng hợp lý nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế cao.

lịch sử

Vào những thế kỷ đầu của công nguyên, Kim Động thuộc quận Giao Chỉ, thời nhà Đinh có tên là Đằng Châu, thời nhà Trần có tên là Kim Động cho đến nay.
Ngày 24 tháng 2 năm 1979, theo Quyết định số 70/CP của Hội đồng Chính phủ, huyện Kim Độngsáp nhập với huyện Ân Thi thành huyện Kim Thi, thuộc tỉnh Hải Hưng. Sau 17 năm hợp nhất, đến tháng 4 năm 1996 thực hiện Nghị định số 05/NĐ-CP ngày 27/01/1996 của Thủ tướng Chính phủ, huyện Kim Thi tách ra thành hai huyện Kim Động và Ân Thi như trước.
Kim Động nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, được phù sa sông Hồng bồi đắp. Trải qua hàng vạn năm, bãi bồi lấn dần ra biển, những người dân Việt cổ men theo những dòng sông, săn bắt thủy sản, phát triển nghề trồng lúa nước để sinh sống. Cùng với sự phát triển kinh tế nông nghiệp, những làng mạc định cư đầu tiên của người Kim Động được dựng lên ven sông Hồng. Trong cuộc đấu tranh với thiên nhiên và trong lao động để tồn tại, những người dân với sức lao động cần cù, chịu khó đã đoàn kết, giúp đỡ nhau khai phá những bãi đồng lầy, dựng làng, lập ấp, gieo lúa, trồng màu để sinh sống. Nhiều làng mạc trong huyện hiện nay vẫn còn chữ Xá (nghĩa là cộng đồng cư dân có chung nguồn gốc): Động Xá, Vĩnh Xá, Vũ Xá, Mai Xá,… Đến nay, nhiều nơi trong huyện vẫn còn tên cổ của làng để ghi công lao những người đầu tiên có công khai lập nên, hoặc ghi nhớ những sự tích của làng, như: làng Nở (Duyên Yên), làng Tè (Tạ Xá), làng Phận (Dưỡng Phú)…
Nhân dân Kim Động mang trong mình dòng máu Lạc Rồng, có truyền thống cần cù trong lao động, dũng cảm trong đấu tranh với thiên nhiên, không chịu khuất phục trước bất cứ kẻ thù nào, đã cùng đồng bào cả nước đánh đuổi hết thù trong giặc ngoài; ngày nay nhân dân Kim Động đang hăng say phấn đấu xây dựng một Kim Động giàu mạnh, phồn thịnh, phấn đấu trở thành huyện tiêu biểu của tỉnh về mọi mặt...
Ngày 23 tháng 9 năm 2003, xã Bảo Khê được sáp nhập vào thị xã Hưng Yên.
Từ ngày 6 tháng 8 năm 2013, các xã Hùng Cường, Phú Cường được sáp nhập vào thành phố Hưng Yên.
Ngoài ra có một xã nữa là Đằng Châu không rõ cách Đồng Thanh mấy cây số. Xã Đằng Châu là nơi Phạm Bạch Hổ đóng giữ.

Kinh tế

Nhằm góp phần nâng cao năng suất, chất lượng lúa và tăng thu nhập cho nông dân, những năm qua, huyện Kim Động đã có nhiều chương trình, chính sách hỗ trợ nông dân, đưa các giống mới chất lượng cao, áp dụng các biện pháp thâm canh vào sản xuất. Những ngày này, tranh thủ thời tiết thuận lợi, nông dân các xã, thị trấn trong huyện đang tập trung ra đồng để thu hoạch lúa xuân với phương châm “Xanh nhà hơn già đồng” và khẩn trương gieo mạ, làm đất, chuẩn bị cho gieo cấy vụ mùa.
Vụ xuân năm nay, huyện Kim Động gieo cấy trên 4.700ha lúa, trong đó 56,5% là diện tích lúa chất lượng cao với các giống: Bắc thơm số 7, Hương thơm, RT10, ĐS1, RSB13, nếp các loại… Lúa chất lượng cao được gieo cấy tập trung chủ yếu ở các xã Chính Nghĩa, Vũ Xá, Vĩnh Xá, Toàn Thắng, Nghĩa Dân, Nhân La, thị trấn Lương Bằng, trong đó ưu tiên mở rộng diện tích lúa chất lượng cao ở những vùng có chân ruộng tốt, liền vùng, liền thửa. Sau một thời gian đưa vào sản xuất đại trà trên địa bàn huyện Kim Động, các giống lúa chất lượng cao này đều thích nghi tốt với điều kiện tự nhiên, khí hậu của địa phương, có khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, cho hiệu quả cao cả về năng suất, chất lượng và giá cả vượt trội. Đến thời điểm này, các giống lúa chất lượng cao trên địa bàn huyện đã cơ bản chín, nông dân đã thu hoạch được khoảng 60% diện tích. Mặc dù sản xuất vụ xuân gặp nhiều khó khăn do thời tiết bất lợi, sâu, bệnh phát triển mạnh, tuy nhiên với nỗ lực của nông dân cùng sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của cấp ủy, chính quyền đặc biệt là sự kịp thời của ngành nông nghiệp huyện, các giống lúa chất lượng cao vẫn cho năng suất cao, ước đạt trung bình từ 2,1- 2,2tạ/sào. So với các giống lúa khác, giá bán các giống lúa chất lượng cao có giá cao hơn từ 1,3- 1,4 lần, sau khi trừ chi phí nông dân thu lãi cao hơn từ 25- 30%.

Văn hóa Du lịch

Đình Thổ Cầu nằm ở trung tâm thôn Thổ Cầu, xã Nghĩa Dân. Ba mặt khuôn viên đình giáp ao hồ, phía sau là đường, đó là địa thế đẹp nhất của làng.
Đình được xây dựng để thờ Trần Hưng Đạo, một vị tướng tài ba thời Trần có công trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông xâm lược. Ông được nhân dân đất Việt tôn là Thánh, rất nhiều nơi trên đất nước đã xây dựng đền thờ Ông.
Tại đình còn diễn ra nhiều sự kiện lịch sử của địa phương. Năm 1945, đình Thổ Cầu là địa điểm bộ đội tập trung đi giành chính quyền ở huyện. Năm 1950, đây là nơi ghi dấu tội ác của thực dân Pháp tàn sát 2 chiến sĩ du kích. Đặc biệt, nơi đây ngày 16.9.1961, bác Hồ đã về thăm và căn dặn cán bộ, nhân dân điạ phương phải gắng sức hơn nữa trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Đình Thổ Cầu được xây dựng thời Lê, trùng tu, tu sửa thời Nguyễn niên hiêu Thành Thái thứ 3 (1981) với kiến trúc chữ Đinh gồm 05 gian đại bái, 03 gian Hậu Cung. Đình còn lưu giữ nhiều mảng chạm khắc đẹp mang phong cách kiến trúc thời Nguyễn. Đặc biệt là các bức cốn giang trung tâm tòa đại bái chạm tứ linh đan xen tứ quý như: rồng, phượng, rùa, thông, cúc, trúc, sen, đường nét chạm khoẻ, cân đối. Các bẩy hiên chạm đề tài tứ bình (thông, mai, cúc, trúc), chữ thọ…
Hiện nay tại đình lưu giữ một số tế tự có giá trị như: hệ thống hoành phi, đại tự, câu đối, bát hương sứ…
Từ những giá trị trên, đình Thổ Cầu được Nhà nước xếp hạng vào loại hình di tích: “Lịch sử và kiến trúc nghệ thuật” năm 1995.
Giống lúa ĐS1 (giống lúa Nhật) đã được đưa vào thâm canh ở đồng đất Kim Động từ năm 2011 với diện tích trên 10ha có đặc điểm nổi trội là cho năng suất cao, chất lượng gạo thơm, ngon, giàu chất dinh dưỡng, khả năng thích ứng rộng, chịu rét tốt, chống chịu sâu, bệnh cao… Nông dân cấy giống lúa này được hỗ trợ chi phí mua thóc giống (10.000 đồng/kg), được tham gia các lớp tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật và được Công ty Xuất nhập khẩu gạo Tường Lân (Yên Mỹ) bao tiêu sản phẩm khi thu hoạch. Đặc biệt, thâm canh giống lúa ĐS1, nông dân chỉ cần cấy thưa, cấy nhỏ dảnh, bón phân cân đối, hợp lý nên giảm lượng giống, phân đạm, nước tưới; lúa thu hoạch xong được công ty đến thu mua thóc tươi ngay tại ruộng giúp giảm công lao động. Vụ xuân năm nay, huyện mở rộng diện tích gieo, cấy giống lúa ĐS1 lên trên 50ha với năng suất đạt trung bình từ 2,4- 2,6tạ/sào. Thóc ĐS1 tươi sẽ được Công ty Xuất nhập khẩu gạo Tường Lân thu mua với giá bằng giá thóc giống Q5 khô cùng thời điểm.
Ông Nguyễn Hồng Trận, nông dân ở xã Chính Nghĩa nói: “Gia đình tôi bắt đầu cấy giống lúa chất lượng cao ĐS1 từ năm ngoái, thấy đây là giống lúa cho năng suất cao, giá thành ổn định, ít bị ép giá do có đơn vị đứng ra bao tiêu sản phẩm nên vụ xuân này tôi tiếp tục cấy 7 sào. Thời gian đầu vụ, lúa mới cấy gặp rét đậm, rét hại kéo dài, sau đó thời tiết vẫn âm u, mưa phùn, khi trỗ lại bị ảnh hưởng bởi rầy nâu và bệnh đạo ôn lá… tuy nhiên giống lúa này có sức chống chịu thời tiết và sâu, bệnh rất tốt nên năng suất lúa thu về vẫn cao, ước đạt trên 2,7tạ/sào”.
Ông Cao Thành Lăng, Chủ nhiệm Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp xã Chính Nghĩa cho biết: “So với cách đây vài năm thì hiện nay diện tích lúa chất lượng cao của xã đã tăng lên rất nhiều. Vụ xuân này toàn xã gieo, cấy trên 305ha, trong đó có 55% diện tích cấy lúa chất lượng cao với các giống như Bắc thơm số 7, ĐS1, nếp các loại… Đến thời điểm này, xã đã thu hoạch được trên 50% diện tích lúa chất lượng cao với năng suất tương đương năm ngoái: Bắc thơm số 7 ước tính cho thu khoảng 1,9tạ/sào; ĐS1 cho năng suất ước đạt 2,5- 2,6tạ/sào; nếp các loại ước tính cho thu 1,9- 2tạ/sào. Ngay từ đầu vụ Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp đã ký kết hợp đồng bao tiêu sản phẩm giống lúa ĐS1 với Công ty Xuất nhập khẩu gạo Tường Lân và thời điểm này chúng tôi đang thống nhất giá bán để công ty về tận nơi thu mua. Vụ mùa tới đây, xã sẽ mở rộng diện tích gieo, cấy lúa chất lượng cao lên 55- 60% và dự kiến sẽ hoàn thành gieo cấy trước ngày 10.7”.
Là một trong những xã trọng điểm cấy lúa của huyện Kim Động, ngay từ sáng sớm, nhiều hộ dân ở xã Vĩnh Xá đã khẩn trương ra đồng thu hoạch lúa chín của gia đình. Vụ xuân năm nay xã gieo cấy trên 402ha lúa, trong đó có 50% diện tích lúa chất lượng cao. Do gieo cấy đúng khung lịch thời vụ và thực hiện chăm bón, phòng, trừ sâu bệnh tốt nên năng suất lúa chất lượng cao trung bình ước đạt 2,2tạ/sào. Ông Đỗ Văn Quyết ở thôn Đào Xá, xã Vĩnh Xá vừa đưa những bó lúa trĩu hạt lên xe vừa phấn khởi nói: “Vài năm trở lại đây gia đình tôi cấy thâm canh các giống lúa chất lượng cao bởi giá trị kinh tế cao hơn các giống lúa hàng hóa thông thường. Vụ xuân vừa qua tôi cấy khoảng 3 mẫu ruộng, trong đó có 6 sào giống lúa Bắc thơm số 7 và đến nay đã thu hoạch xong cho năng suất khoảng 2- 2,2tạ/sào, cao hơn 20- 30kg/sào so với năm ngoái. Vụ mùa tới đây gia đình tôi sẽ tiếp tục mở rộng diện tích gieo, cấy giống lúa Bắc thơm số 7”.
Cùng với việc chỉ đạo nông dân các xã, thị trấn nhanh chóng thu hoạch vụ lúa xuân, ngay từ đầu tháng 5, huyện đã triển khai kế hoạch, chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết cho sản xuất vụ mùa, vụ đông năm 2014. Với mục tiêu tiếp tục duy trì trên 50% diện tích lúa chất lượng cao và hoàn thành gieo cấy trước ngày 10.7, sau khi thu hoạch xong lúa xuân, huyện chỉ đạo các địa phương khẩn trương làm đất với phương châm “Gặt đến đâu bừa ngả ngay đến đó”; đồng thời phối hợp với đơn vị khai thác công trình thủy lợi trên địa bàn rà soát, cân đối nguồn nước, mở nước, bơm nước phục vụ nông dân sản xuất.
Bà Ngô Thị Toan, Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Kim Động cho biết: “Những kết quả đạt được của việc thâm canh các giống lúa chất lượng cao trên địa bàn huyện đã khẳng định chủ trương đúng đắn trong việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng, một mặt giúp nông dân yên tâm đầu tư, mạnh dạn đưa giống mới, năng suất, chất lượng cao vào gieo, cấy; mặt khác giúp nông dân ngày càng tiếp cận nhiều hơn với tiến bộ khoa học kỹ thuật mới, nâng cao giá trị thu nhập trên cùng một đơn vị diện tích. Tuy nhiên, hiện nay sản xuất lúa chất lượng cao ở huyện Kim Động cũng đang gặp một số khó khăn do đồng ruộng còn manh mún, cơ sở hạ tầng, thủy lợi, đường giao thông nội đồng còn chưa hoàn thiện, nông dân vẫn phải tự tìm đầu ra cho sản phẩm của mình… Để tiếp tục đẩy mạnh thâm canh và mở rộng diện tích lúa chất lượng cao trong thời gian tới, huyện tập trung hoàn thành việc dồn thửa đổi ruộng; tiếp tục khảo nghiệm và tuyển chọn giống lúa chất lượng cao có khả năng thích nghi tốt điều kiện tự nhiên, khí hậu của địa phương để đưa vào sản xuất; đẩy mạnh công tác tập huấn, chuyển giao khoa học kỹ thuật vào sản xuất lúa chất lượng cao; liên kết chặt chẽ giữa “4 nhà” nhằm chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, cung ứng nguồn giống, bảo đảm đầu ra ổn định cho nông dân…”
Một số đặc sản của Hưng Yên là nhãn lồng, mật ong hoa nhãn, long nhãn, Cá mòi sông Hồng, hạt sen, bún thang lươn, Đặc sản gà Đông Tảo Hưng Yên, Tương Bần, bánh giày, chả gà tiêu quán, ếch om Phượng Toàn...

Hình ảnh về Nghĩa Dân, Hưng Yên

Hình ảnh Nghĩa Dân, Hưng Yên
Trẻ em xã Đông Thanh- Kim Động- Hưng Yên
Hình ảnh Nghĩa Dân, Hưng Yên
Thanh niên hoạt động tại xã Ngọc Thanh- Kim Động- Hưng Yên
Hình ảnh Nghĩa Dân, Hưng Yên
Nhãn lồng Hưng Yên
Hình ảnh Nghĩa Dân, Hưng Yên
Một góc Vĩnh Xá- Kim Động- Hưng Yên
Hình ảnh Nghĩa Dân, Hưng Yên
Đồng ruộng Vĩnh Xá- Kim Động- Hưng Yên
Hình ảnh Nghĩa Dân, Hưng Yên
Sen Kim Động
Hình ảnh Nghĩa Dân, Hưng Yên
Sử dụng máy cấy lúa tại xã Toàn Thắng- Kim Động- Hưng Yên
Hình ảnh Nghĩa Dân, Hưng Yên
Chưng cất rượu truyền thống tại xã Toàn Thắng- Kim Động- Hưng Yên
Hình ảnh Nghĩa Dân, Hưng Yên
Sen Kim Động
Hình ảnh Nghĩa Dân, Hưng Yên
Đồng ruộng Nghĩa Dân- Kim Động- Hưng Yên
Hình ảnh Nghĩa Dân, Hưng Yên
Đình Thổ Cầu Nghĩa Dân- Kim Động- Hưng Yên
Hình ảnh Nghĩa Dân, Hưng Yên
Sen Kim Động

Dự án bất động sản tại Xã Nghĩa Dân, Kim Động - Hưng Yên

Hiện chưa có dự án nào tại Xã Nghĩa Dân, Kim Động - Hưng Yên

Xã Nghĩa Dân gần với xã, phường nào?

Bản đồ vị trí Nghĩa Dân

Chi nhánh / cây ATM tại Nghĩa Dân, Hưng Yên

Chi nhánh/ PGD ngân hàng ở Xã Nghĩa Dân - Hưng Yên

STTNgân hàngTên CN/ PGDĐịa chỉ
1AgribankPhòng giao dịch Trương XáThôn Trương Xá, Xã Toàn Thắng, Kim Động, Hưng Yên

Cây ATM ngân hàng ở Xã Nghĩa Dân - Hưng Yên

STTNgân hàngTên cây ATMĐịa chỉ
1AgribankTrương Xá - Toàn ThắngThôn Trương Xá, Xã Toàn Thắng, Kim Động, Hưng Yên

Ghi chú về Xã Nghĩa Dân

Thông tin về Xã Nghĩa Dân, Tỉnh Hưng Yên liên tục được cập nhật tại tinbds.com. Nếu bạn thấy thông tin không chính xác, vui lòng góp ý với ban quản trị website tinbds.com. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn đóng góp của bạn.
Từ khóa tìm kiếm:
Xã Nghĩa Dân, Tỉnh Hưng Yên: mã số, diện tích, dân số, mật độ dân số; Xã Nghĩa Dân sau sáp nhập