Tỉnh thành VN > Hưng Yên > Xã Triệu Việt Vương

Xã Triệu Việt Vương, Tỉnh Hưng Yên sau sáp nhập

Thông tin tổng quan về Xã Triệu Việt Vương sau sáp nhập

Xếp hạng Xã Triệu Việt Vương
  • Diện tích phường/xã/đặc khu thuộc Hưng Yên: #40
  • Diện tích phường/xã/đk toàn quốc: #2726
  • Dân số phường/xã/đk thuộc Hưng Yên: #17
  • Dân số phường/xã/đk toàn quốc: #729
  • Mật độ dân số phường/xã/đk thuộc Hưng Yên: #20
  • Mật độ dân số phường/xã/đk toàn quốc: #449
Xã Triệu Việt Vương thành lập theo nghị quyết Số: 1666/NQ-UBTVQH15; Ngày: 16/06/2025
Thông tin cơ bản:
  • Mã số: 12223
  • Trung tâm hành chính: đang cập nhật
  • Diện tích: 27.15 km²
  • Dân số: 44,554 người
  • Mật độ dân số: 1,650 người/km²
  • Sáp nhập từ: Xã Phạm Hồng Thái, Xã Tân Dân, Xã Ông Đình, Xã An Vĩ

Thông tin về Xã Tân Dân (cũ - trước sáp nhập):
Tân Dân là 1 xã của huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên, nước Việt Nam.

Các số điện thoại quan trọng


Bưu điện Khoái Châu: +84 321 3914 036
UBND Tỉnh Hưng Yên: (0221) 3863823 - 3862750
BVĐK Huyện Khoái Châu: +84 321 3910 356
Taxi Phú Thụy: 03213.999.999
Khách sạn Phố Hiến Hưng Yên: 84 321 3862 909
NH nông nghiệp và phát triển nông thôn: 063 3828364
Phòng vé hàng không VN: 063 3825413

Địa lý thời tiết

Diện Tích: 10,62 km²
Tổng số dân: 11.974 người.
Tọa độ: 20°51′34″B 105°59′2″Đ
Xã Tân Dân bao gồm các thôn: Bình Dân, Thọ Bình, An Dân, Bãi Sậy 1, Bãi Sậy 2, Bãi Sậy 3.
Khí hậu nhiệt đới gió mùa, với 2 mùa rõ rệt. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, đặc trưng là nóng ẩm mưa nhiều. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau thường lạnh, đầu mùa khí hậu tương đối khô, nửa cuối ẩm ướt và có mưa phùn, nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 230C, cao nhất 38 - 39oC, thấp nhất không dưới 5oC.

lịch sử

Thời Bắc thuộc
Dưới thời nhà Tần (từ 214-204) trước Công nguyên, Khoái Châu thuộc Tượng Quận.
Nhà Triệu (từ 207-111 trước Công nguyên) chia lãnh thổ Việt Nam khi đó làm hai quận, Khoái Châu thuộc huyện Chu Diên (朱鳶縣), quận Giao Chỉ.
Thời Tây Hán và Đông Hán (từ 111 trước Công nguyên - 40 Công nguyên), nhà Hán chia lãnh thổ Việt Nam khi đó thành 9 quận, Khoái Châu thuộc quận Giao Chỉ.
Thời Đông Ngô (216 - 265 Công nguyên), nhà Ngô tách cả nước ra làm hai châu gồm Quảng Châu và Giao Châu, Khoái Châu thuộc quận Giao Châu.
Thời Tùy Đường (603 - 939), quận Giao Châu được chia thành 3 quận, Khoái Châu thuộc quận Giao Chỉ, đến năm 679 lại chia Giao Châu thành 12 châu, 59 huyện, Khoái Châu thuộc Vũ Bình - Giao Châu.
Thời kỳ Quân-chủ Chuyên-chế Việt Nam
Thời Nhà Ngô (939-968), Khoái Châu được gọi là Đằng Châu.
Nhà Đinh (968-980) chia cả nước ra thành 10 đạo, Khoái Châu thuộc Đằng Đạo.
Năm 1002 nhà Lê đổi 10 đạo thành lộ, phủ và châu; Khoái Châu thuộc Đằng Châu. Năm 1005 đổi Đằng Châu ra phủ Thái Bình.
Năm 1010 nhà Lý đổi 10 đạo thành 24 lộ. Năm 1222 vẫn giữ 24 lộ, Khoái Châu thuộc lộ Khoái Châu gọi là Khoái Lộ.
Năm 1229 nhà Trần đổi 24 lộ thời Lý thành 12 lộ, Khoái Châu thuộc Khoái Lộ.
Tháng 4 năm 1297, nhà Trần lại tiếp tục đổi các lộ, phủ, thành, trấn; vùng đất Khoái Châu thuộc Thiên Trường phủ lộ.
Sau khi xâm lược An Nam, tháng 6 năm 1407, nhà Minh đổi An Nam thành Giao Chỉ, lập thành 17 phủ, vùng Khoái Châu thuộc phủ Kiến Xương.
Năm 1426, khi tiến quân ra Đông Đô, Lê Lợi chia cả nước làm 4 đạo, Khoái Châu thuộc Nam đạo.
Tháng 6/1466 (tức năm Quang Thuận thứ 7), Lê Thánh Tông chia cả nước làm 12 đạo thừa tuyên, Khoái Châu thuộc thừa tuyên Thiên Trường.
Tháng 3/1469 (tức năm Quang Thuận thứ 10), năm đầu tiên nhà nước định bản đồ, Thiên Trường lại đổi là Sơn Nam quản 11 phủ, 42 huyện, phủ Khoái Châu quản 5 huyện gồm Đông Yên, Tiên Lữ, Kim Động, Phù Dung, Thiên Thi; phủ Tiên Hưng quản 4 huyện gồm Ngự Thiên, Duyên Hà, Thần Khê, Thanh Lan. Tháng 4/1490 (năm Hồng Đức thứ 21), cả nước được chia làm 13 xứ, Khoái Châu thuộc xứ Sơn Nam.
Tháng 6 năm 1527, nhà Mạc (Đăng Dung) đem các lộ của Khoái Châu thuộc vào Hải Dương.
Nhà Lê lại đổi lại như cũ.
Năm Cảnh Hưng thứ 2 (1741) tháng giêng: Nhà Lê chia Sơn Nam thành 2 lộ Sơn Nam thượng và Sơn Nam hạ, phủ Khoái Châu thuộc lộ Sơn Nam thượng, phủ Tiên Hưng thuộc Sơn Nam hạ.
Hai phủ Sơn Nam thượng và Sơn Nam hạ được đổi lại làm 2 trấn Sơn Nam thượng và Sơn Nam hạ.
Năm Gia Long thứ nhất (1802) lấy 2 trấn thượng và hạ lệ thuộc vào Bắc thành (Sơn Nam Thượng, Sơn Nam Hạ, Kinh Bắc, Sơn Tây, Hải Dương là 5 nội trấn của Bắc thành).
Năm Minh Mạng thứ ba 1822, trấn Sơn Nam thượng đổi là trấn Sơn Nam, trấn Sơn Nam hạ đổi là trấn Nam Định.
Năm Minh Mạng thứ 12 (tháng 10/1831): Minh Mạng tiến hành một cuộc cải cách hành chính địa phương, xóa bỏ các tổng trấn, đổi các dinh trấn thành tỉnh, chia cả nước thành 30 tỉnh, trong đó có tỉnh Hưng Yên. Các trấn phía Bắc được đổi thành 18 tỉnh, dưới tỉnh là phủ, huyện, châu và tổng, xã. Tỉnh Hưng Yên có phủ Khoái Châu và 5 huyện (Đông An, Kim Động, Thiên Thi, Phù Dung, Tiên Lữ). Cải tổ lại hệ thống các quan lại đứng đầu tỉnh, bỏ các chức cũ mà đặt mới như Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chính, Án sát, Lãnh binh ở các tỉnh. Huyện Đông An gồm các tổng: Bái, Mễ, Đại Quan, Phú Khê, Bình Dân, Yên Lạc, Yên Lịch, Yên Vĩnh, Yên Cảnh, Ninh Tập, Yên Phú, Tử Dương.
Sau nhiều lần thay đổi, mỗi triều đại đều có cải cách, canh tân bộ máy hành chính từ Trung ương đến cơ sở cho phù hợp với hoàn cảnh lịch sử và thuận bề cho việc cai trị, điều hành.
Thời kỳ hiện đại
Ngày 24/7/1999: Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra Nghị định số 60- NĐ/CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính và chia các huyện Mỹ Văn và Châu Giang thành 5 huyện, Yên Mỹ, Mỹ Hào, Văn Lâm, Văn Giang, Khoái Châu. Chia huyện Châu Giang thành 2 huyện Khoái Châu và Văn Giang: Huyện Khoái Châu có tổng số diện tích theo km2 tự nhiên là 13.073,1 ha với 184.079 nhân khẩu gồm 25 xã: Đông Tảo, Dạ Trạch, Hàm Tử, Ông Đình, Bình Minh, An Vĩ, Đông Kết, Bình Kiều, Tân Dân, Tứ Dân, Tân Châu, Đông Ninh, Đại Tập, Liên Khê, Nhuế Dương, Chí Tân, Đại Hưng, Thuần Hưng, Thành Công, Phùng Hưng, Việt Hòa, Đồng Tiến, Hồng Tiến, Dân Tiến, và thị trấn Khoái Châu.

Kinh tế giao thông


Xã Tân Dân (Khoái Châu, Hưng Yên): Làm giàu từ trồng cam đường canh xen lẫn cây dược liệu. ần 20 năm trước, cây cam đường canh được người dân xã Tân Dân (Khoái Châu, Hưng Yên) đem về trồng xen thêm cây địa liền trên đất ruộng. Thấy được hiệu quả kinh tế mà hai loại cây này mang lại, những năm trở lại đây, nhiều gia đình trong xã đã chọn cây cam đường canh và cây địa liền là cây trồng chủ lực trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đem lại thu nhập cao cho nhiều hộ nông dân.
Về Tân Dân một ngày cuối năm, đúng vào mùa thu hoạch cam và củ địa liền, chúng tôi không khỏi ngạc nhiên bởi những vườn cam rộng lớn trĩu trịt quả trông thật thích mắt, bên dưới những vườn cam vàng rực quả chín là một màu xanh rì của cây địa liền. Con đường liên xã đã được bê tông hoá, hai bên đường san sát những ngôi nhà cao tầng khang trang. Không khí thu hoạch cam thật tấp nập, khắp nơi những chiếc xe máy, xe tải vào ra không ngớt.
Cam đường canh là loại cây cho hiệu quả kinh tế cao, quả cam có mã đẹp, vị ngọt và thơm được nhiều người ưa chuộng, nhất là vào mỗi dịp Tết. Giống cam này có khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, tốc độ sinh trưởng và phát triển nhanh (từ 3 đến 4 năm cây cho thu hoạch); khi thu hoạch, trung bình một cây cho từ 40 đến 50 kg quả, thậm chí có cây đạt 80 kg quả. Nếu chăm sóc tốt cây sẽ cho thu hoạch trên dưới 10 năm, rồi mới cằn cỗi dần. Còn địa liền là một loại cây dược liệu, cây thân thảo, thân rễ hình trứng, gồm nhiều củ nhỏ, thường được trồng vào tháng giêng và đến mùa khô khoảng tháng 11-12 âm lịch là có thể thu hoạch. So với các địa phương khác, Tân Dân có lợi thế hơn là đất nông nghiệp ở đây chủ yếu là đất thịt màu mỡ có pha một hàm lượng nhỏ cát, rất thích hợp để trồng cây địa liền và các loại cây lâu năm như cam. Việc trồng xen địa liền không những không làm ảnh hưởng tới sự phát triển của cây cam mà ngược lại, địa liền được trồng bên dưới vừa có thể tận dụng được lượng phân bón, thuốc trừ sâu bà con bón cho cam, vừa hạn chế được cỏ dại, đến tháng 5, tháng 6, lá địa liền xòe rộng phủ kín mặt đất có tác dụng giữ độ ẩm cho cây cam trong những ngày nắng hạn. Không những vậy, địa liền còn là loại cây ít bệnh, dễ chăm sóc và mang lại thu nhập cao. Chính bởi vậy, nhiều năm trở lại đây, cây cam và cây địa liền đã và đang góp phần tích cực trong xoá đói giảm nghèo, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân nơi đây.
Đến thăm vườn cam của anh Nguyễn Đình Hằng ở thôn Bãi Sậy 1, vào mùa thu hoạch, vườn cam của gia đình anh trông thật thích mắt. Những cây cam cao hơn đầu người trĩu trịt quả chín, phải dùng gậy chống để đỡ quả. Với 1,3 mẫu cam đường canh trồng xen củ địa liền, qua gần 20 mùa cam nếm đủ cả cay đắng, ngọt bùi, anh Hằng đã đúc rút được nhiều kinh nghiệm, bài học quý giá. Chia sẻ về kinh nghiệm trồng cam đường canh, anh cho biết: “Trồng cam không khó nhưng cần sự đam mê và phải đầu tư. Cam đường canh là một loại cây ăn quả khó tính nên những người trồng phải chăm sóc rất công phu, cần phải áp dụng quy trình chăm sóc nghiêm ngặt. Trong đó yếu tố quan trọng nhất để cây ra được hoa là người làm vườn phải biết được thời tiết khi nào chuẩn bị trời rét đậm để trước đó xử lý diệt một phần rễ và khoanh gốc cam. Lúc cây đậu quả non lại phải khoanh - tiện gốc một lần nữa để giữ quả. Đối với cây khoẻ thì tiện bóc vài hôm rồi bọc lại, còn yếu thì phải tiện mịn hơn...”. Năm nay, ước tính gia đình anh Hằng thu được khoảng 5 tấn cam và gần 5 tấn củ địa liền, với giá bán hiện nay là gần 20.000 đồng/kg củ địa liền, trên 50.000 đồng/kg cam, trừ mọi chi phí gia đình anh thu lãi từ 200- 300 triệu đồng”.
Chia tay anh Hằng, chúng tôi đến thăm vườn cam canh của gia đình ông Lê Thanh Sơn cũng ở thôn Bãi Sậy 1. Mặc dù không phải là người tiên phong trồng cam đường của xã và diện tích cam cũng chỉ hơn 6 sào nhưng vườn cam của ông Sơn năm nay lại là một trong những vườn cam cho nhiều quả và mã đẹp nhất cả xã. Dự tính, mùa cam năm nay, gia đình ông sẽ thu được khoảng 2,5 tấn quả và gần 2 tấn củ địa liền. Ông Sơn cho hay: “Mỗi khi có chương trình tập huấn trồng trọt về thôn, tôi lại tích cực tham gia, nghe ở đâu có mô hình trồng cam hiệu quả, tôi cũng tìm đến tận nơi học hỏi. Sở dĩ năm nay có rất nhiều hộ trồng cam bị mất mùa nhưng vườn cam của gia đình tôi vẫn sai quả và chất lượng quả tốt cũng là do tôi áp dụng đúng quy trình kỹ thuật để chăm sóc vườn cam của gia đình”.
Không riêng gia đình ông Sơn, anh Hằng, rất nhiều hộ gia đình trong xã đã vươn lên xoá đói giảm nghèo, có thu nhập ổn định từ cam. Cây cam canh đã thực sự trở thành cây không chỉ xoá đói giảm nghèo mà còn làm giàu cho người dân nơi đây. Ông Nguyễn Văn Được, Chủ nhiệm HTX dịch vụ nông nghiệp Tân Dân phấn khởi cho biết: “Cây cam đường canh được đem về trồng ở xã từ những năm 1992, 1993, thấy được hiệu quả kinh tế cao nên đến năm 1995 các hộ gia đình đã mạnh dạn đưa cây cam ra đồng. Hiện xã có khoảng 60-70 hộ trồng cam xen lẫn cây địa liền với diện tích gần 40 ha, tập trung ở 2 thôn, Bãi Sậy 1 và Bãi Sậy 2, mỗi năm cây cam đường canh và địa liền đóng góp hàng tỷ đồng vào tổng thu nhập của xã".
Thấy được giá trị kinh tế cao và khả năng tiêu thụ tương đối ổn định nên cam đường canh và địa liền được người dân nơi đây coi là những loại cây trồng chủ lực mang lại thu nhập khá cho nhiều hộ gia đình. Với điều kiện đất đai, thổ nhưỡng, khí hậu thuận lợi cùng việc lựa chọn cơ cấu cây trồng phù hợp sẽ tạo điều kiện để nhân dân Tân Dân xây dựng vùng cam có “thương hiệu” để đáp ứng nhu cầu thị trường trong và ngoài tỉnh.

Văn hóa du lịch

Đình làng Tiểu Quan-Phùng Hưng-Khoái Châu-Hưng Yên
Một số đặc sản của thành phố Hưng Yên là nhãn lồng, mật ong, long nhãn, Cá mòi sông Hồng, hạt sen, bún thang lươn, Đặc sản gà Đông Tảo Hưng Yên, Tương Bần, bánh giày, chả gà tiêu quán, ếch om Phượng Toàn, đặc sản chả gà
Phường / Xã / Thị trấn cùng tên Tân Dân:

Thông tin về Xã Ông Đình (cũ - trước sáp nhập):
Ông Đình là 1 xã của huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên, nước Việt Nam.

Các số điện thoại quan trọng


Bưu điện Khoái Châu: +84 321 3914 036
UBND Tỉnh Hưng Yên: (0221) 3863823 - 3862750
BVĐK Huyện Khoái Châu: +84 321 3910 356
Taxi Phú Thụy: 03213.999.999
Khách sạn Phố Hiến Hưng Yên: 84 321 3862 909
NH nông nghiệp và phát triển nông thôn: 063 3828364
Phòng vé hàng không VN: 063 3825413

Địa lý thời tiết

Diện Tích: 3,13 km²
Tổng số dân: 4364 người.
Tọa độ: 20°51′14″B 105°58′15″Đ
Xã Ông Đình bao gồm các thôn: Thống Nhất, Hòa Bình, Ba Hàng.
Ông Đình nằm cách trung tâm huyện Khoái Châu 2km về phía Bắc, phía Đông giáp đường 209, phía Tây Nam có đường 205 và 205C di qua, thông thương với vùng kinh tế phát triển mạnh như: Đông Tảo, Mễ Sở, vùng du lịch sịnh thái Hàm Tử - Dạ Trạch.
Khí hậu nhiệt đới gió mùa, với 2 mùa rõ rệt. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, đặc trưng là nóng ẩm mưa nhiều. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau thường lạnh, đầu mùa khí hậu tương đối khô, nửa cuối ẩm ướt và có mưa phùn, nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 230C, cao nhất 38 - 39oC, thấp nhất không dưới 5oC.

lịch sử

Thời Bắc thuộc
Dưới thời nhà Tần (từ 214-204) trước Công nguyên, Khoái Châu thuộc Tượng Quận.
Nhà Triệu (từ 207-111 trước Công nguyên) chia lãnh thổ Việt Nam khi đó làm hai quận, Khoái Châu thuộc huyện Chu Diên (朱鳶縣), quận Giao Chỉ.
Thời Tây Hán và Đông Hán (từ 111 trước Công nguyên - 40 Công nguyên), nhà Hán chia lãnh thổ Việt Nam khi đó thành 9 quận, Khoái Châu thuộc quận Giao Chỉ.
Thời Đông Ngô (216 - 265 Công nguyên), nhà Ngô tách cả nước ra làm hai châu gồm Quảng Châu và Giao Châu, Khoái Châu thuộc quận Giao Châu.
Thời Tùy Đường (603 - 939), quận Giao Châu được chia thành 3 quận, Khoái Châu thuộc quận Giao Chỉ, đến năm 679 lại chia Giao Châu thành 12 châu, 59 huyện, Khoái Châu thuộc Vũ Bình - Giao Châu.
Thời kỳ Quân-chủ Chuyên-chế Việt Nam
Thời Nhà Ngô (939-968), Khoái Châu được gọi là Đằng Châu.
Nhà Đinh (968-980) chia cả nước ra thành 10 đạo, Khoái Châu thuộc Đằng Đạo.
Năm 1002 nhà Lê đổi 10 đạo thành lộ, phủ và châu; Khoái Châu thuộc Đằng Châu. Năm 1005 đổi Đằng Châu ra phủ Thái Bình.
Năm 1010 nhà Lý đổi 10 đạo thành 24 lộ. Năm 1222 vẫn giữ 24 lộ, Khoái Châu thuộc lộ Khoái Châu gọi là Khoái Lộ.
Năm 1229 nhà Trần đổi 24 lộ thời Lý thành 12 lộ, Khoái Châu thuộc Khoái Lộ.
Tháng 4 năm 1297, nhà Trần lại tiếp tục đổi các lộ, phủ, thành, trấn; vùng đất Khoái Châu thuộc Thiên Trường phủ lộ.
Sau khi xâm lược An Nam, tháng 6 năm 1407, nhà Minh đổi An Nam thành Giao Chỉ, lập thành 17 phủ, vùng Khoái Châu thuộc phủ Kiến Xương.
Năm 1426, khi tiến quân ra Đông Đô, Lê Lợi chia cả nước làm 4 đạo, Khoái Châu thuộc Nam đạo.
Tháng 6/1466 (tức năm Quang Thuận thứ 7), Lê Thánh Tông chia cả nước làm 12 đạo thừa tuyên, Khoái Châu thuộc thừa tuyên Thiên Trường.
Tháng 3/1469 (tức năm Quang Thuận thứ 10), năm đầu tiên nhà nước định bản đồ, Thiên Trường lại đổi là Sơn Nam quản 11 phủ, 42 huyện, phủ Khoái Châu quản 5 huyện gồm Đông Yên, Tiên Lữ, Kim Động, Phù Dung, Thiên Thi; phủ Tiên Hưng quản 4 huyện gồm Ngự Thiên, Duyên Hà, Thần Khê, Thanh Lan. Tháng 4/1490 (năm Hồng Đức thứ 21), cả nước được chia làm 13 xứ, Khoái Châu thuộc xứ Sơn Nam.
Tháng 6 năm 1527, nhà Mạc (Đăng Dung) đem các lộ của Khoái Châu thuộc vào Hải Dương.
Nhà Lê lại đổi lại như cũ.
Năm Cảnh Hưng thứ 2 (1741) tháng giêng: Nhà Lê chia Sơn Nam thành 2 lộ Sơn Nam thượng và Sơn Nam hạ, phủ Khoái Châu thuộc lộ Sơn Nam thượng, phủ Tiên Hưng thuộc Sơn Nam hạ.
Hai phủ Sơn Nam thượng và Sơn Nam hạ được đổi lại làm 2 trấn Sơn Nam thượng và Sơn Nam hạ.
Năm Gia Long thứ nhất (1802) lấy 2 trấn thượng và hạ lệ thuộc vào Bắc thành (Sơn Nam Thượng, Sơn Nam Hạ, Kinh Bắc, Sơn Tây, Hải Dương là 5 nội trấn của Bắc thành).
Năm Minh Mạng thứ ba 1822, trấn Sơn Nam thượng đổi là trấn Sơn Nam, trấn Sơn Nam hạ đổi là trấn Nam Định.
Năm Minh Mạng thứ 12 (tháng 10/1831): Minh Mạng tiến hành một cuộc cải cách hành chính địa phương, xóa bỏ các tổng trấn, đổi các dinh trấn thành tỉnh, chia cả nước thành 30 tỉnh, trong đó có tỉnh Hưng Yên. Các trấn phía Bắc được đổi thành 18 tỉnh, dưới tỉnh là phủ, huyện, châu và tổng, xã. Tỉnh Hưng Yên có phủ Khoái Châu và 5 huyện (Đông An, Kim Động, Thiên Thi, Phù Dung, Tiên Lữ). Cải tổ lại hệ thống các quan lại đứng đầu tỉnh, bỏ các chức cũ mà đặt mới như Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chính, Án sát, Lãnh binh ở các tỉnh. Huyện Đông An gồm các tổng: Bái, Mễ, Đại Quan, Phú Khê, Bình Dân, Yên Lạc, Yên Lịch, Yên Vĩnh, Yên Cảnh, Ninh Tập, Yên Phú, Tử Dương.
Sau nhiều lần thay đổi, mỗi triều đại đều có cải cách, canh tân bộ máy hành chính từ Trung ương đến cơ sở cho phù hợp với hoàn cảnh lịch sử và thuận bề cho việc cai trị, điều hành.
Thời kỳ hiện đại
Ngày 24/7/1999: Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra Nghị định số 60- NĐ/CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính và chia các huyện Mỹ Văn và Châu Giang thành 5 huyện, Yên Mỹ, Mỹ Hào, Văn Lâm, Văn Giang, Khoái Châu. Chia huyện Châu Giang thành 2 huyện Khoái Châu và Văn Giang: Huyện Khoái Châu có tổng số diện tích theo km2 tự nhiên là 13.073,1 ha với 184.079 nhân khẩu gồm 25 xã: Đông Tảo, Dạ Trạch, Hàm Tử, Ông Đình, Bình Minh, An Vĩ, Đông Kết, Bình Kiều, Tân Dân, Tứ Dân, Tân Châu, Đông Ninh, Đại Tập, Liên Khê, Nhuế Dương, Chí Tân, Đại Hưng, Thuần Hưng, Thành Công, Phùng Hưng, Việt Hòa, Đồng Tiến, Hồng Tiến, Dân Tiến, và thị trấn Khoái Châu.
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, nhân dân Ông Đình đã tích cực góp người, góp của cùng nhân dân cả nước chiến thắng kẻ thù. Kết thúc cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc được Đảng và Nhà nước tặng " Huân chương kháng chiến hạng Nhất ".

Kinh tế giao thông

Ông Đình có địa bàn gọn, đường trục xã nối liền giữa đường 209 phía Đông và đường 205 phía Tây, rất thuận tiện cho việc giao thông đi lại. Cốt đất tự nhiên cao, có điều kiện đa dạng hóa cây trồng. Những năm gần đây , xã đã tích cực vươn lên trong công cuộc đổi mới phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo. Tích cực chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu cây trồng, tăng giá trị thu trên một diện tích canh tác như: Cam, bưởi, nhãn, chuối, táo...
Chăn nuôi theo hướng công nghiệp phát triển, nhiều mô hình chăn nuôi trang trại vừa và nhỏ đạt hiệu quả cao; sản xuất TTCN, dịch vụ phát triển tôt như nghề: Mộc, cơ khí nhỏ...
Qũy tín dụng nhân dân đảm bảo tốt nguồn vốn cho sản xuất và kinh doanh của nhân dân. Các chính sách xã hội thực hiện tốt, quản lý và sử dụng đất đai đúng luật, đã cấp xong giấy chứng nhận khu dân cư và đất canh tác cho nhân dân
Trong xã có 02 làng được công nhận là làng văn hóa, có 75% gia đình văn hóa.
Đảng bộ, chính quyền 5 năm liên tiếp đạt danh hiệu trong sạch, vữ, an ninh chính trị mạnh tiêu biểu. Các đoàn thể, quần chúng đạt vững mạnh, các đoàn thể, quần thể. Đảng bộ, chính quyền 5 năm liền đạt danh hiệu trong sạch, vững mạnh tiêu biểu. Các đoàn thể, quần chúng đạt vững mạnh, an ninh chính trị , trật tự an, toàn xã hội được ổn định và gữ vững
Một số đặc sản của thành phố Hưng Yên là nhãn lồng, mật ong, long nhãn, Cá mòi sông Hồng, hạt sen, bún thang lươn, Đặc sản gà Đông Tảo Hưng Yên, Tương Bần, bánh giày, chả gà tiêu quán, ếch om Phượng Toàn...
Thông tin về Xã An Vĩ (cũ - trước sáp nhập):
An Vĩ là 1 xã của huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên, nước Việt Nam.

Các số điện thoại quan trọng


Bưu điện Khoái Châu: +84 321 3914 036
UBND Tỉnh Hưng Yên: (0221) 3863823 - 3862750
BVĐK Huyện Khoái Châu: +84 321 3910 356
Taxi Phú Thụy: 03213.999.999
Khách sạn Phố Hiến Hưng Yên: 84 321 3862 909
NH nông nghiệp và phát triển nông thôn: 063 3828364
Phòng vé hàng không VN: 063 3825413

Địa lý thời tiết

Diện Tích: 4,86 km²
Tổng số dân: 6.284 người.
Tọa độ: 20°50′38″B 105°58′30″Đ
Khí hậu nhiệt đới gió mùa, với 2 mùa rõ rệt. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, đặc trưng là nóng ẩm mưa nhiều. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau thường lạnh, đầu mùa khí hậu tương đối khô, nửa cuối ẩm ướt và có mưa phùn, nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 230C, cao nhất 38 - 39oC, thấp nhất không dưới 5oC.

lịch sử

Thời Bắc thuộc
Dưới thời nhà Tần (từ 214-204) trước Công nguyên, Khoái Châu thuộc Tượng Quận.
Nhà Triệu (từ 207-111 trước Công nguyên) chia lãnh thổ Việt Nam khi đó làm hai quận, Khoái Châu thuộc huyện Chu Diên (朱鳶縣), quận Giao Chỉ.
Thời Tây Hán và Đông Hán (từ 111 trước Công nguyên - 40 Công nguyên), nhà Hán chia lãnh thổ Việt Nam khi đó thành 9 quận, Khoái Châu thuộc quận Giao Chỉ.
Thời Đông Ngô (216 - 265 Công nguyên), nhà Ngô tách cả nước ra làm hai châu gồm Quảng Châu và Giao Châu, Khoái Châu thuộc quận Giao Châu.
Thời Tùy Đường (603 - 939), quận Giao Châu được chia thành 3 quận, Khoái Châu thuộc quận Giao Chỉ, đến năm 679 lại chia Giao Châu thành 12 châu, 59 huyện, Khoái Châu thuộc Vũ Bình - Giao Châu.
Thời kỳ Quân-chủ Chuyên-chế Việt Nam
Thời Nhà Ngô (939-968), Khoái Châu được gọi là Đằng Châu.
Nhà Đinh (968-980) chia cả nước ra thành 10 đạo, Khoái Châu thuộc Đằng Đạo.
Năm 1002 nhà Lê đổi 10 đạo thành lộ, phủ và châu; Khoái Châu thuộc Đằng Châu. Năm 1005 đổi Đằng Châu ra phủ Thái Bình.
Năm 1010 nhà Lý đổi 10 đạo thành 24 lộ. Năm 1222 vẫn giữ 24 lộ, Khoái Châu thuộc lộ Khoái Châu gọi là Khoái Lộ.
Năm 1229 nhà Trần đổi 24 lộ thời Lý thành 12 lộ, Khoái Châu thuộc Khoái Lộ.
Tháng 4 năm 1297, nhà Trần lại tiếp tục đổi các lộ, phủ, thành, trấn; vùng đất Khoái Châu thuộc Thiên Trường phủ lộ.
Sau khi xâm lược An Nam, tháng 6 năm 1407, nhà Minh đổi An Nam thành Giao Chỉ, lập thành 17 phủ, vùng Khoái Châu thuộc phủ Kiến Xương.
Năm 1426, khi tiến quân ra Đông Đô, Lê Lợi chia cả nước làm 4 đạo, Khoái Châu thuộc Nam đạo.
Tháng 6/1466 (tức năm Quang Thuận thứ 7), Lê Thánh Tông chia cả nước làm 12 đạo thừa tuyên, Khoái Châu thuộc thừa tuyên Thiên Trường.
Tháng 3/1469 (tức năm Quang Thuận thứ 10), năm đầu tiên nhà nước định bản đồ, Thiên Trường lại đổi là Sơn Nam quản 11 phủ, 42 huyện, phủ Khoái Châu quản 5 huyện gồm Đông Yên, Tiên Lữ, Kim Động, Phù Dung, Thiên Thi; phủ Tiên Hưng quản 4 huyện gồm Ngự Thiên, Duyên Hà, Thần Khê, Thanh Lan. Tháng 4/1490 (năm Hồng Đức thứ 21), cả nước được chia làm 13 xứ, Khoái Châu thuộc xứ Sơn Nam.
Tháng 6 năm 1527, nhà Mạc (Đăng Dung) đem các lộ của Khoái Châu thuộc vào Hải Dương.
Nhà Lê lại đổi lại như cũ.
Năm Cảnh Hưng thứ 2 (1741) tháng giêng: Nhà Lê chia Sơn Nam thành 2 lộ Sơn Nam thượng và Sơn Nam hạ, phủ Khoái Châu thuộc lộ Sơn Nam thượng, phủ Tiên Hưng thuộc Sơn Nam hạ.
Hai phủ Sơn Nam thượng và Sơn Nam hạ được đổi lại làm 2 trấn Sơn Nam thượng và Sơn Nam hạ.
Năm Gia Long thứ nhất (1802) lấy 2 trấn thượng và hạ lệ thuộc vào Bắc thành (Sơn Nam Thượng, Sơn Nam Hạ, Kinh Bắc, Sơn Tây, Hải Dương là 5 nội trấn của Bắc thành).
Năm Minh Mạng thứ ba 1822, trấn Sơn Nam thượng đổi là trấn Sơn Nam, trấn Sơn Nam hạ đổi là trấn Nam Định.
Năm Minh Mạng thứ 12 (tháng 10/1831): Minh Mạng tiến hành một cuộc cải cách hành chính địa phương, xóa bỏ các tổng trấn, đổi các dinh trấn thành tỉnh, chia cả nước thành 30 tỉnh, trong đó có tỉnh Hưng Yên. Các trấn phía Bắc được đổi thành 18 tỉnh, dưới tỉnh là phủ, huyện, châu và tổng, xã. Tỉnh Hưng Yên có phủ Khoái Châu và 5 huyện (Đông An, Kim Động, Thiên Thi, Phù Dung, Tiên Lữ). Cải tổ lại hệ thống các quan lại đứng đầu tỉnh, bỏ các chức cũ mà đặt mới như Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chính, Án sát, Lãnh binh ở các tỉnh. Huyện Đông An gồm các tổng: Bái, Mễ, Đại Quan, Phú Khê, Bình Dân, Yên Lạc, Yên Lịch, Yên Vĩnh, Yên Cảnh, Ninh Tập, Yên Phú, Tử Dương.
Sau nhiều lần thay đổi, mỗi triều đại đều có cải cách, canh tân bộ máy hành chính từ Trung ương đến cơ sở cho phù hợp với hoàn cảnh lịch sử và thuận bề cho việc cai trị, điều hành.
Thời kỳ hiện đại
Ngày 24/7/1999: Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra Nghị định số 60- NĐ/CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính và chia các huyện Mỹ Văn và Châu Giang thành 5 huyện, Yên Mỹ, Mỹ Hào, Văn Lâm, Văn Giang, Khoái Châu. Chia huyện Châu Giang thành 2 huyện Khoái Châu và Văn Giang: Huyện Khoái Châu có tổng số diện tích theo km2 tự nhiên là 13.073,1 ha với 184.079 nhân khẩu gồm 25 xã: Đông Tảo, Dạ Trạch, Hàm Tử, Ông Đình, Bình Minh, An Vĩ, Đông Kết, Bình Kiều, Tân Dân, Tứ Dân, Tân Châu, Đông Ninh, Đại Tập, Liên Khê, Nhuế Dương, Chí Tân, Đại Hưng, Thuần Hưng, Thành Công, Phùng Hưng, Việt Hòa, Đồng Tiến, Hồng Tiến, Dân Tiến, và thị trấn Khoái Châu.

Kinh tế

Xã An Vĩ, huyện Khoái Châu hiện có khoảng trên 60 mẫu trồng cây cỏ ngọt, tăng 20 mẫu so với năm trước. Từ nhiều năm nay cây cỏ ngọt đã đem lại nguồn thu đáng kể cho nhiều người dân ở đây.
Diện tích trồng cỏ ngọt của xã tập trung nhiều ở thôn Thượng và thôn Trung. Vào thời điểm này bà con nông dân đang tích cực chăm sóc và thu hoạch cỏ ngọt. Những thửa ruộng mới thu hoạch tiếp tục được bón phân, làm cỏ, tưới nước để cỏ phát triển tốt.
Mỗi sào cỏ ngọt cho thu từ 7 đến 8 lứa/ 1 năm, giá bán cỏ ngọt trên thị trường từ đầu năm đến nay luôn dao động từ 35- 40 nghìn đồng/ kg khô, có thời điểm lên tới 60 - 70 nghìn đồng/ kg, nên người trồng có lãi cao. Năng suất cỏ ngọt đạt khoảng 100kg khô/ sào/ lứa, nhiều hộ chăm bón tốt năng suất có thể đạt 130 đến 140kg khô/sào/lứa.
Mỗi lứa cỏ, nếu chăm sóc tốt chỉ khoảng 1 tháng là cho thu hoạch, một năm người trồng có thể thu lãi khoảng 25- 30 triệu đồng/ sào, gấp nhiều lần so với trồng lúa. Từ nhiều năm nay, nhờ trồng cỏ ngọt mà nhiều hộ gia đình trong xã đã xóa nghèo, làm giàu hiệu quả như hộ gia đình nhà anh Nguyễn Đình Bá, Nguyễn Văn Lân, Nguyễn Quý Cần thôn Thượng.
Xã An Vĩ xây dựng nông thôn mới: Cùng với thu nhập cải thiện, người dân đã hiểu rõ lợi ích mình nhận được trong việc xây dựng nông thôn và thực sự coi xây dựng nông thôn mới là mục tiêu hướng tới để làm giàu cho bản thân và đóng góp cho sự phát triển của địa phương. An Vĩ có tổng số diện tích theo km2 là tự nhiên là 502 hecta, dân số 7.937 người với 2.223 hộ gia đình. Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng nông thôn mới, xã An Vĩ có xuất phát điểm không cao khi vào năm 2011 thu nhập bình quân đầu người chỉ đạt 16 triệu đồng/người/năm, chỉ đạt 9 trên 19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới. Tuy nhiên, qua 5 năm triển khai quyết liệt, cùng với sự hỗ trợ, đồng lòng chung tay góp sức của nhân dân, đến nay, xã đã đạt 17 tiêu chí. Đặc biệt, xã An Vĩ cũng quyết tâm phấn đấu đến cuối năm 2015 sẽ đạt đầy đủ 19 tiêu chí, trở thành xã chuẩn nông thôn mới. Xã An Vĩ cũng quyết tâm phấn đấu đến cuối năm 2015 sẽ đạt đầy đủ 19 tiêu chí, trở thành xã chuẩn nông thôn mới.

Văn hóa Du lịch

Thăm vườn nhãn hoặc những vườn cỏ ngọt trải dài và hít thở không khí trong nành nơi đồng quê
Một số đặc sản của thành phố Hưng Yên
Nhãn lồng, mật ong, long nhãn, Cá mòi sông Hồng, hạt sen, bún thang lươn, Đặc sản gà Đông Tảo Hưng Yên, Tương Bần, bánh giày, chả gà tiêu quán, ếch om Phượng Toàn, Đậu phụ An Vĩ..

Hình ảnh về Triệu Việt Vương, Hưng Yên

Hình ảnh Triệu Việt Vương, Hưng Yên
Trồng cam đường canh xen lẫn cây dược liệu xã Tân Dân- Khoái Châu- Hưng Yên
Hình ảnh Triệu Việt Vương, Hưng Yên
Văn chỉ Bình Dân xã Tân Dân- Khoái Châu- Hưng Yên
Hình ảnh Triệu Việt Vương, Hưng Yên
Bánh tẻ Hưng Yên
Hình ảnh Triệu Việt Vương, Hưng Yên
Ông Đình- Khoái Châu Hưng Yên
Hình ảnh Triệu Việt Vương, Hưng Yên
UBND xã Ông Đình- Khoái Châu Hưng Yên
Hình ảnh Triệu Việt Vương, Hưng Yên
Đồng ruộng tại Ông Đình- Khoái Châu Hưng Yên
Hình ảnh Triệu Việt Vương, Hưng Yên
Cây cỏ ngọt tại xã An Vĩ- Khoái Châu- Hưng Yên
Hình ảnh Triệu Việt Vương, Hưng Yên
Nhãn lồng- Hưng Yên
Hình ảnh Triệu Việt Vương, Hưng Yên
Đậu phụ xã An Vĩ- Khoái Châu- Hưng Yên

Dự án bất động sản tại Xã Triệu Việt Vương, Khoái Châu - Hưng Yên

Ảnh dự án Phố Hiến City
Phố Hiến City
Địa chỉ: Đường Nguyễn Trãi, Xã Tân Dân - Xã An Vĩ - Xã Dân Tiến, Huyện Khoái Châu, Hưng Yên.
Ảnh dự án Phố Hiến City
Phố Hiến City
Địa chỉ: Đường Nguyễn Trãi, Xã Tân Dân - Xã An Vĩ - Xã Dân Tiến, Huyện Khoái Châu, Hưng Yên.
Ảnh dự án Phố Hiến City
Phố Hiến City
Địa chỉ: Đường Nguyễn Trãi, Xã Tân Dân - Xã An Vĩ - Xã Dân Tiến, Huyện Khoái Châu, Hưng Yên.

Xã Triệu Việt Vương gần với xã, phường nào?

Bản đồ vị trí Triệu Việt Vương

Chi nhánh / cây ATM tại Triệu Việt Vương, Hưng Yên

Chi nhánh/ PGD ngân hàng ở Xã Triệu Việt Vương - Hưng Yên

STTNgân hàngTên CN/ PGDĐịa chỉ
1BIDVPhòng giao dịch Khoái ChâuXã An Vĩ, Khoái Châu, Hưng Yên

Cây ATM ngân hàng ở Xã Triệu Việt Vương - Hưng Yên

STTNgân hàngTên cây ATMĐịa chỉ
1BIDVPhòng GD Khoái ChâuTT Khoái Châu - An Vĩ- Huyện Khoái Châu, Tỉnh Hưng Yên

Ghi chú về Xã Triệu Việt Vương

Thông tin về Xã Triệu Việt Vương, Tỉnh Hưng Yên liên tục được cập nhật tại tinbds.com. Nếu bạn thấy thông tin không chính xác, vui lòng góp ý với ban quản trị website tinbds.com. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn đóng góp của bạn.
Từ khóa tìm kiếm:
Xã Triệu Việt Vương, Tỉnh Hưng Yên: mã số, diện tích, dân số, mật độ dân số; Xã Triệu Việt Vương sau sáp nhập