Xã Tân Lĩnh, Tỉnh Lào Cai sau sáp nhập
Mục lục:
Thông tin tổng quan về Xã Tân Lĩnh sau sáp nhập
Xếp hạng Xã Tân Lĩnh
Xã Tân Lĩnh thành lập theo nghị quyết Số: 1673/NQ-UBTVQH15; Ngày: 16/06/2025
Thông tin cơ bản:
- Mã số: 04336
- Trung tâm hành chính: đang cập nhật
- Diện tích: 147.75 km²
- Dân số: 20,155 người
- Mật độ dân số: 136 người/km²
- Sáp nhập từ: Xã Minh Chuẩn, Xã Tân Lập, Xã Phan Thanh, Xã Khai Trung, Xã Tân Lĩnh
Thông tin về Xã Minh Chuẩn (cũ - trước sáp nhập):
Minh Chuẩn là 1 xã của huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái, nước Việt Nam.
Diện tích - Dân số
Xã có tổng số diện tích theo km2 28,61 km², tổng số dân vào năm 1999 là 2.572 người, mật độ dân số tương ứng 90 người/km².Lịch sử hình thành
Tên xã Minh Chuẩn xuất hiện từ triều vua Minh Mệnh thứ 12 - 1831, thuộc tổng Thạch Quả.Vị trí địa lý
Phía Bắc giáp với xã Tân Phượng, phía Đông giáp với xã Khai Trung, phía Tây giáp sông Chảy và xã Việt Tiến ( huyện Bảo Yên, Lào Cai). Trước năm 1945, lý trưởng ở đây ngả theo Việt Minh bàn giao chính quyền cho cách mạng, khởi nghĩa thắng lợi. Sau năm 1945 đặt tên là xã Hùng Việt.
Năm 1954, đổi tên thành xã Thống Nhất, năm 1964 khôi phục lại tên cổ là xã Minh Chuẩn.
Phía Nam xã (thuộc thôn Làng Bướm) có một ngọn núi giáp ranh với xã Khai Trung vào mùa khô cây cỏ cháy vàng, trơ lại màu tro gọi là núi Cháy (hoặc núi Thúy Điều) nằm trong dãy núi Thần Áo Đen. Tương truyền, núi Cháy ngày nay là hiện trường đám cháy do đốt nến trong buổi lễ tế trời của bộ tộc họ Kim sống ở chân núi Thúy trong buổi lễ đọc lời nguyền xóa bỏ tục lệ khi chồng chết sớm thì chị dâu buộc tái giá với em chồng ( “Huyền thoại lời nguyền trên núi Thúy” của tác giả Hoàng Bích Nhung)
Phía Bắc xã có con đèo Làng Khánh, nằm trên con đường tỉnh lộ Yên Bái - Phố Ràng. Trước cách mạng tháng 8 năm 1945 là con đường huyết mạch, trong chiến tranh thế giới lần thứ 2, Pháp cho cải tạo, nâng cấp thành con đường quân sự nối vào quốc lộ 4, là cửa ngõ duy nhất thông với tỉnh Lào Cai lúc bấy giờ.
Trước CM tháng 8/1945 có 4 thôn là Làng Khánh, Tông Kè, Ngòi Nạc và Làng Bướm..
Dân cư xã Minh Chuẩn vốn là đồng bào dân tộc Tày thông thạo nghề trồng lúa nước. Nghề đánh bắt thủy sản, khai thác vận chuyển, buôn bán lâm sản trên sông Chảy khá phát triển.
Năm 1947, đồng bào tỉnh Lào Cai tản cư đến, lập trại tản cư ở chân núi Làng Khánh, gọi là trại Hùng Việt, trở thành điểm thương mại, cũng là cơ sở hậu cần cho tỉnh Lào Cai. Nơi đây cũng là một trong những điểm dừng chân của cơ quan lãnh đạo tỉnh trên đường sơ tán.
Xã Minh Chuẩn hiện có 9 thôn:
1- Thôn Khuổi Khít
2- Thôn Co Cại
3- Thôn Đồng Kè
4- Thôn Ngòi Nạc
5- Thôn Nà Phung
6- Thôn Làng Bướm
7- Thôn Làng Khánh Trong
8-Thôn Làng Khánh Ngoài
9- Thôn Sân Tập
Đường từ thị trấn huyện lỵ qua xã Tân Lĩnh, ngược theo sông Chảy đến xã.
Thông tin về Xã Tân Lập (cũ - trước sáp nhập):
Tân Lập là một xã thuộc huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái, Việt Nam.
Diện tích - Dân số
Xã có tổng số diện tích theo km2 32,15 km²,Tổng số dân vào năm 1999 là 3.532 người, mật độ dân số tương ứng 110 người/km².
Lịch sử hình thành
Trước cách mạng tháng 8/1945 tên xã là Tòng Lệnh, thuộc Tổng Lâm Trường Thượng, sau năm 1945, thành lập xã mới đặt tên là xã Bình Thịnh, năm 1949 đổi tên thành xã Tô Hiệu, đến năm 1953 đổi tên thành xã Tân Lập. Gồm các làng bản cổ như: phố Cát, làng Úc, Ao Sen, bản Tại, bản Chang, bản Hạ, bản Thanh Giang. Sau năm 1965 tiếp nhận thêm các làng: Động Siêng, làng São. Trung tâm xã là Phố Cát.Xã Tân Lập có nhiều ngọn núi cao sắc nhọn, như núi Thâm Then cao 501m. Xã có các di chỉ khảo cổ học cấp quốc gia như Hang Hùm, chùa Úc, chùa São (còn có tên gọi khác là chùa Hương Thảo).
Năm 1948, tại nhà riêng ông Lương Văn Lợi (còn gọi là ông phó Bằng) làng Úc, cách thị trấn Lục Yên cũ 6km về phía Nam, ngày 9/12/1948 huyện đã họp Đại hội thành lập Đảng bộ Đảng CSVN huyện Lục Yên, bầu Ban Huyện ủy, đồng chí Lê Doãn Kim được bầu làm bí thư.
Thập kỷ 60/TK20, xây dựng nhà máy thủ điện Thác Bà, nhiều địa danh cổ và di chỉ khảo cổ học bị chìm dưới lòng hồ Thác Bà, trong đó có:
Địa danh thắng cảnh
Hang Hùm là một động đá vôi nằm bên tả ngạn sông Chảy, có độ sâu vào lòng hang khoảng 20m, đường vào hiểm trở, trong hang có nhiều ô không gian bằng phẳng, chia cắt bởi những khối nhũ đá vôi; tại đây, phát hiện hóa thạch răng người cổ. Năm 1964, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã đến đây thăm chuyên gia, cán bộ, công nhân khai quật di chỉ khảo cổ học Hang Hùm.Chùa Hang Tân Lập nằm ở ngọn núi khác trong hệ thống núi Hang Hùm, chùa Hang mang phong cách văn hóa Chăm pa, chưa phát hiện kiến trúc gia thất, mà chỉ biết bệ thờ được đặt trong lòng hang. Trong hang lưu lại phế tích một ngôi chùa cổ, còn dấu tích 2 bệ thờ, một tượng sư tử đất nung, trên phế tích đất nung có hình rồng, hình tiên nữ áp sa ra, chim thần; đặc biệt, trên 1 cánh hoa sen đất nung có hàng chữ xã Lâm Trường.
Chùa São nằm tại thôn São hiện nay. Chùa không có kiến trúc gia thất. Không gian ngôi chùa nổi bật là cảnh quan thiên nhiên của một quả núi đá vôi gồm nhiều hang động hơn là yếu tố thờ cúng tâm linh. Trong hang có nhiều thạch nhũ kích thước lớn nhỏ khác nhau, hang động liên tiếp trong lòng núi khá hấp dẫn. Sau này chủ yếu là thương nhân tự suy tôn thành chùa thờ đa thần linh cầu tài cầu lộc. Tên chính xác của nó là chùa São, không hiểu lý do gì, gần đây người ta đặt tên khác cho nó là chùa Hương Thảo?
Sau năm 1960, xã có một HTX là HTX Úc. Hiện nay, xã Tân Lập có 4 thôn bản lớn gồm:
1- Thôn São
2- Thôn Xiêng, gồm bản Xiêng 1 và Xiêng 2
3- Thôn Úc, gồm 4 bản: bản Tại, bản Chang, bản Hạ và bản Lũng
4- Thôn Cát, gồm 5 bản: bản Cát 1, bản Cát 2, làng Ao Sen, bnar Thanh Giang, xóm Cầu Giát
Đường từ thị trấn đến xã đi qua xã Tân Lĩnh và vượt nhiều đèo dốc khá hiểm trở.
Phường / Xã / Thị trấn cùng tên Tân Lập:
- Xã Tân Lập - Huyện Mộc Hóa - Tỉnh Long An
- Xã Tân Lập - Huyện Tân Thạnh - Tỉnh Long An
- Xã Tân Lập - Huyện Thủ Thừa - Tỉnh Long An
- Xã Tân Lập - Huyện Tịnh Biên - Tỉnh An Giang
- Xã Tân Lập - Huyện Lục Ngạn - Tỉnh Bắc Giang
- Xã Tân Lập - Huyện Chợ Đồn - Tỉnh Bắc Kạn
- Xã Tân Lập - Huyện Hàm Thuận Nam - Tỉnh Bình Thuận
- Xã Tân Lập - Huyện Đồng Phú - Tỉnh Bình Phước
- Xã Tân Lập - Huyện Krông Buk - Tỉnh Đắk Lắk
- Xã Tân Lập - Thành phố Buôn Ma Thuột - Tỉnh Đắk Lắk
Thông tin về Xã Phan Thanh (cũ - trước sáp nhập):
Phan Thanh là một xã thuộc huyện Lục Yên,tỉnh Yên Bái, Việt Nam.
Diện tích - Dân số
Xã có tổng số diện tích theo km2 36,26 km²,Tổng số dân vào năm 1999 là 2.143 người, mật độ dân số tương ứng 59 người/km².
Địa hình
Là một xã có đường xá đi lại khó khăn, phía đông và phía bắc là núi cao, phía tây và phía nam là hồ Thác Bà. con đường bộ độc đạo đi lên phía bắc men theo các triền núi cao để thông thương với các nơi khác.Mất gần 40 km thì mới đến đường quốc lộ. Tuy nhiên, mọi người vẫn có thể đi theo một con đường khác là đi bằng thuyền qua hồ Thác Bà. Chỉ mất chưa đầy 5Km là có thể ra tới đường quốc lộ. Mùa nước mùa nước xuống thì đi 2 lần thuyền, chuyển thuyền phải đi bộ mất 500m đường lầy lội, không đi được bằng xe máy.Lịch sử hình thành
Trước cách mạng tháng 8/1945 là xã Tòng Lệnh, thuộc Tổng Lâm Trường Thượng.Năm 1954 sau cải cách ruộng đất, đặt tên mới theo tên Nhà cách mạng Việt Nam, cụ Phan Thanh (1908 - 1939), quê quán tại huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.
Vị trí địa lý
Xã Phan Thanh phía Bắc giáp với xã Tân Lập, phía Nam giáp với xã Đồng Lạng, phía Đông kề vào sườn Tây núi Nậm Ngập, phía Tây ngăn bởi sông Chảy.
Trước năm 1945, xã có 7 làng là: Phố Riềng, làng Ro, làng Híp, phố Hốc, làng Vạn Thìu, lũng Dầu. Phía Bắc có con ngòi Dầu cắt ngang chảy ra sông Chảy. Giữa xã có ngôi miếu thờ cô mẫu tọa lạc trên quả gò tả ngạn bến Vạn Thìu, địa danh một thời xã vắng, không dễ gì mai một trong dân gian như: Vạn Thìu là bến đò huyết mạch trong kháng chiến chống Pháp thông sang huyện Văn Yên. Ngòi Ho, Mỏ Dù là những khuỷu sông gấp khúc cực kỳ hiểm trở cho dân làm nghề sông nước, họ lập đàn tế trời tại đây cầu mong sự “xuôi dòng bến lọt”.
Tộc danh trong xã là người Tày, Nùng. Trong tộc danh Tày có một tiểu tộc khá đặc biệt gọi là “Keo mạy ràng” (tạm dịch là Kinh nứa giang), theo các cụ cao tuổi giải thích rằng: Tổ tiên một bộ phận cư dân ở đây có nguồn gốc là người Kinh quê quán ở Hải Dương, Hải Phòng làm nghề đánh cá biển, trong quá trình giao lưu buôn bán lâm thổ sản, ban đầu là buôn bè tre giang (lạt giang) về xuôi, tiếp theo là nhiều lý do khác, họ di cư lên lập nghiệp tại Vạn Thiều, đặt tên cho quần cư của mình là “Vạn” (tức nghề cá) gắn với địa danh sở tại là xã Xuân Thiều tác thành Vạn Thiều sau này. Kinh qua nhiều đời, sự giao thoa giữa hai nền văn hóa miền núi và miền biển hòa quyện với nhau, dần dà trở thành người Tày, nhưng vẫn giữ nguyên tiếng mẹ đẻ của mình là tiếng Kinh cổ (mặc dầu họ nghe và hiểu thông thạo tiếng Tày, Nùng). Đặc điểm tiếng kinh cổ của họ khi phát âm không phân định rõ chữ cái TR, ngay trong các cụ cao tuổi bây giờ họ vẫn phát âm như ngày xưa. Ví dụ con trâu trắng thành con “tâu tắng”, cây tre đọc là “cây te”. Có ý kiến cho rằng bộ phận tiểu tộc danh ấy thời cổ có nguồn gốc chuyên buôn cây giang về xuôi, nên gọi đồng bào là “Keo mạy ràng” (kinh buôn giang). Văn hóa tâm linh của Keo mạy ràng có nhiều điểm tương đồng với người Kinh hơn người Tày, Nùng, như tập quán tổ chức ngày giỗ tổ, tập quán này người Tày, Nùng không có. Trong xã có 1 họ đạo thiên chúa giáo ngự ở xóm Ba Trạng (làng Híp) hình thành từ thập kỷ 20/TK20, sau này chuyển dần sang xã Trúc Lâu.
Sau cách mạng tháng 8/1945, chính quyền mới đặt tên xã là Cát Khánh. Năm 1949, tách xã thành 2, phía Bắc là xã Tô Hiệu, phíaNam là xã Phan Thanh
Trong kháng chiến chống Pháp, quân đội xây dựng tại ngòi Hốc một cơ sở hậu cần, sản xuất giấy và một số vũ khí nhỏ, tỉnh cũng đặt một tổng kho thóc dự trữ tại phố Hốc phục vụ chiến dịch Tây Bắc.
Năm 1964, khi xây dựng nhà máy thủy điện Thác Bà, xã bị ngập hầu hết, nên phần lớn dân phải chuyển đến nhiều xã lân cận như Yên Thắng, Minh Xuân, Liễu Đô...Một bộ phận nhỏ sống trên mốc hồ (58m) được chuyển vào vùng ven chân núi. Từ thập kỷ 80/TK20 mực nước hồ Thác Bà ổn định, một số diện tích vẫn có thể trồng trọt, nhất là các đảo hồ có lợi thế trồng cây lâm nghiệp, nên dân quay trở lại cư trú, tái lập xã, vẫn giữ tên cũ là xã Phan Thanh.
Xã Phan Thanh hiện nay có 8 thôn:
1- Thôn Bản Kè
2- Thôn Bản Năn
3- Thôn Bản Chang (trung tâm xã)
4- Thôn Bản Thủy Văn
5- Thôn Bản Hốc
6- Thôn Bản Xả
7- Thôn Bản Ro
8- Thôn Bản Dầu
Đường từ trung tâm huyện lỵ đến xã 30km, qua các xã Tân Lĩnh, Tân Lập, vượt 2 con đèo hiểm trở là đèo Xiêng và đèo Úc.
Phường / Xã / Thị trấn cùng tên Phan Thanh:
- Xã Phan Thanh - Huyện Bắc Bình - Tỉnh Bình Thuận
- Xã Phan Thanh - Huyện Bảo Lạc - Tỉnh Cao Bằng
- Xã Phan Thanh - Huyện Nguyên Bình - Tỉnh Cao Bằng
Thông tin về Xã Khai Trung (cũ - trước sáp nhập):
Khai Trung là 1 xã của huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái, nước Việt Nam.
Xã có tổng số diện tích theo km2 12,97 km², tổng số dân vào năm 1999 là 996 người, mật độ dân số tương ứng 77 người/km².
Lịch sử hình thành
Trước năm 1945 gọi là động Thúy Điều năm trong số 4 động lớn của huyện Lục Yên là: Động Khiểng Khun thuộc xã Tân Phượng, động Xiêng thuộc xã Tân Lập và động Khuôn Thống thuộc xã Tân Lĩnh. Thuộc xã Lâm Trường Thượng, tổng Lâm Trường Thượng. Bộ phận người Dao thuộc xã Tả Thạch Quả, tổng Thạch Quả. Khai Trung nhìn như một bồn địa treo trên núi cao, bằng phẳng, có độ cao trên 500m, bao bọc xung quanh bởi các dãy núi đá, núi đất trùng điệp khép kín, chỉ có một con đường duy nhaatscheenh vênh đi lên.Dân cư ở đây là đồng bào Dao và đồng bào Tày (đồng bào Tày thuộc sự quản lý của xã Lâm Trường Thượng, bộ phận người Dao thuộc sự quản lý của xã Tả Thạch Quả, tổng Thạch Quả).
Vị trí địa lý
Phía Bắc giáp với xã Tân Phượng, phía Nam giáp với xã Tân Lĩnh, phía Tây giáp với xã Minh Chuẩn, phía Đông giáp với xã Lâm Thượng và Mai Sơn.
Khai Trung có 4 con ngòi 4 mùa nước trong xanh đó là ngòi Tát Én, ngòi Giáp Chảy, ngòi Giáp Cang và ngòi Khe Lùng chảy xuống xã Lâm Thượng qua một cái động rất hiểm trở là động Nặn Ròm, dân gọi là vực trâu đuối (mùa lũ, trâu qua lại dễ bị nước cuốn hút xuống hang gây đuối). Thổ nhưỡng ở đây màu mỡ, khí hậu ôn hòa phù hợp trồng cây ăn quả, ngô, lạc, đậu tương.
Sau cách mạng tháng 8/1945, động Thúy Điều nâng cấp thành đơn vị hành chính cấp xã đặt tên là xã Khai Trung. Năm 1950, xã Khai Trung sáp nhập vào xã Hạc Phượng (tức xã Tân Phượng), đặt tên mới là xã Đoàn Kết, Khai Trung trở thành một thôn. Trong CCRĐ 1954, xã Hạc Phượng tách thành 2 xã, thôn Khai Trung (ở phía Nam) lập xã Đoàn Kết, xã Hạc Phương (phía Bắc) đặt tên mới là xã Tân Phượng. Ngày 03/4/1965 Bộ Nội vụ ra quyết định đổi tên xã Đoàn Kết thành xã Khai Trung.
Từ những năm đầu thế kỷ 21, sau khi mở được con đường bê tông lên xã, đến nay mọi mặt phát triển khá nhanh. Khai Trung đang nỗ lực phát triển kinh tế gắn với du lịch sinh thái.
Di tích lịch sử
Các di tích núi thần Áo Đen, núi Thúy, núi Bạch Mã, núi Cháy, đền Đại Cại, thành cổ Bến Lăn, chùa São (Tân Lập)...nếu được kết nối với khu du lịch Thác Bà, sẽ tạo thành tuyến du lịch hấp dẫn.
Xã Khai Trung còn lưu truyền tên làng đặc biệt cổ kính theo phép đếm cổ: Giáp, Ất, Bính, Đinh...
Hiện nay, xã Khai Trung chia thành 5 thôn:
1- Thôn Giáp Chảy
2- Thôn Giáp Cang
3- Thôn Giáp Luồng
4- Thôn Tát Én
5- Thôn Khe Lùng
Từ thị trấn huyện lỵ Lục Yên đến xã dài 15 km, phải qua xã Tân Lĩnh (qua cầu bến Lăn, qua thôn Cẩu Vè, vượt dốc Thúy Điều khá hiểm trở, đến xã)
Thông tin về Xã Tân Lĩnh (cũ - trước sáp nhập):
Tân Lĩnh là một xã thuộc huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái, Việt Nam.
Diện tích - Dân số
Xã có tổng số diện tích theo km2 37,11 km², tổng số dân vào năm 1999 là 6.213 người, mật độ dân số tương ứng 167 người/km².Lịch sử hình thành
Trước thế kỷ XIX là xã Lâm Trường Hạ, thuộc tổng Lương Sơn. Thế kỷ XX là xã Lâm Trường Hạ, thuộc tổng Lâm Trường Hạ.Sau cách mạng tháng 8/1945, Việt Minh đặt tên là xã Bộ Lĩnh (chưa rõ lý do)
Vị trí địa lý
Xã Tân Lĩnh hiện nay nằm ở phía tả ngạn sông Chảy, phía Bắc giáp với xã Minh Chuẩn, phía Nam giáp với xã Tân Lập, phía Tây giáp sông Chảy, phía Đông là eo Hin Lạn (còn gọi là khe Kẹp) xã Yên Thắng.
Trước CM tháng 8/1945, xã chia thành 3 thôn là:
1- Thôn Làng Chuông: Gồm các thôn 1,2,3 hiện nay. Trong thôn có những cụm dân cư như: Lũng Cáy, Hin Trạng, Dốc Lim Vang. Con ngòi Chuông chảy qua giữa thôn, cuối thôn có ngọn núi đá vôi đứng độc lập, hình dáng qủa chuông gọi là núi Chuông, bởi vậy được đặt cho tên làng là thôn Làng Chuông.
2- Thôn Làng Cốc: Gồm các thôn 4,5,6 và thôn Làng Mo bây giờ. Dân bản địa bấy giờ là đồng bào Nùng. Ngôi làng nằm ở nơi đầu nguồn ngòi Đại Cại từ xã Lâm Thượng đổ vào xã, con ngòi này có độ dốc cao, lưu lượng nước lớn, nên thường gây ra nạn lũ ống. Phía Bắc thôn có có con đèo Lự thông với xã Lâm Thượng và con đèo Thúy Điều thông với xã Khai Trung. Phía Tây là ngọn núi Thần Áo Đen, đã được Lê Quý Đôn ghi nhận vào Kiến văn tiểu lục. Trong dân có rất nhiều huyền thoại về ngọn núi này.
3- Thôn Làng Sâng: Gồm các thôn 7,8,910,13 hiện nay. Thôn Làng Sâng cổ phía Bắc giáp thôn Làng Bướm, xã Minh Chuẩn, phía Nam giáp với xã Đào Lâm và phố Lục Yên, phía Đông chắn bởi eo Kéo Căng, phía Tây là sông Chảy, bên kia là xã Tô Mậu. Địa hình thôn Làng Sâng rất đặc biệt, có độ dốc nghiêng theo hướng Đông Nam Tây Bắc đổ về con ngòi Đại Cại. Một thôn chỉ có tổng số diện tích theo km2 là trên dưới 10km2 mà có đến 5-6 di tích lịch sử tầm quốc gia. Phía Bắc có di tích chùa Hắc Y, miếu Hắc Y thời Trần, tọa lạc phía hữu ngạn ngòi Đại Cại và thành cổ thời kỳ Gia quốc công Vũ Văn Mật. Cũng tại nơi đây còn có ngọn núi Thần Áo Đen, núi Bạch Mã và con ngòi Đại Cại. Tại cửa ngòi Đại Cại đổ vào sông Chảy nay có ngôi đền Đại Cại phụng thờ núi Thần Áo Đen, chi họ Gia quốc công Vũ Văn Mật, tọa lạc phía tả ngạn, có bề dày lịch sử. Từ đời vua Tự Đức đến đời vua Duy Tân được nhận 6 sắc phong. Thôn Làng Sâng còn có 2 con đèo đó là đèo Mận thông với thôn Làng Chuông và đèo Sâng thông với thị trấn Lục Yên cũ. Làng Sâng trước cách mạng tháng 8/1945 tập trung nhiều điểm thương mại buôn bán và cũng là đất giao lưu các hạng thương lái xuôi, ngược.
Sau CMT8/1945, xã đặt tên mới là Bộ Lĩnh, gồm 7 đơn vị thôn bản là: Làng Sâng, Làng Cốc, Làng Mo (trước đây thuộc xã Nhân Mục), Làng Chuông, Đồng Cậu, Khuôn Thống, Bến Lăn.
Năm 1949, xã Bộ Lĩnh sáp nhập và xã Yên Thế thành lập xã mới, đặt tên là Bắc Sơn. Địa bàn xã Bắc Sơn cơ bản là đất cũ của xã Lâm Trường Hạ trước cách mạng. Xã chia thành 2 thôn lớn là thôn Bộ Lĩnh ở phía Tây và thôn Yên Thế ở phía Đông.
Bộ Lĩnh - Yên Thế - Bắc Sơn trong kháng chiến chống Pháp là địa phương rất năng động, bà con sẵn sàng chịu đựng khó khăn, nơi đây là hậu cứ tiếp nhận đồng bào tản cư tỉnh Lào Cai và các xã Việt Cường, Hưng Khánh ( huyện Trấn Yên - Yên Bái) vào cư trú. Trường sư phạm sơ cấp tỉnh Lào Cai cũng đặt tại đây.
Cuối năm 1953, xã Bắc Sơn tách ra làm 2 xã, địa bàn thôn Bộ Lĩnh thành xã Tân Lĩnh, địa bàn thôn Yên Thế thành xã Yên Thắng.
Năm 1954, xã Tân Lĩnh chia thành 6 thôn: Làng Sâng Trong, Làng Sâng Ngoài, Làng Chuông Trong, Làng Chuông Ngoài, Làng Cốc, Làng Mo.
Trao thôn Khuôn Thống về xã Trần Phú, thôn Bến Lăn ghép vào thôn Sâng Ngoài.
Năm 1965 - 1966, xã Tân Lĩnh đón đồng bào Thái Bình lên phát triển kinh tế mới. Tân lĩnh hình thành 2 HTX Tân Đồng và Tân Ngọc.
Đầu thập kỷ thứ nhất Tk21, toàn xã thành lập 18 thôn bản:
1- Thôn Hin Trang
2- Thôn Chuông Trong
3- Thôn Chuông Ngoài
4- Thôn Làng Mo
5- Thôn Làng Cốc
6- Thôn Bến Mảng
7- Thôn Cẩu Vè
8- Thôn Thâm Rằng
9- Thôn Sâng Ngoài
10- Thôn Sâng Trong
11- Thôn Sâng Chang
12- Thôn Ngọc Minh (phố Phai, xã Trần Phú cũ)
13- Thôn Trần Phú
14- Thôn Khuôn Thống
15- Bản Ính
16- Xóm Ngõa
17- Xóm Tía (Lợi Hà, xã Trần Phú cũ)
18- Thôn Bến Lăn.
Xem thêm:
Hình ảnh về Tân Lĩnh, Lào Cai

Khánh thành nhà bia ghi tên liệt sĩ xã Minh Chuẩn

Hình ảnh khai thác quặng tại địa bàn xã

Mô hình trang trại nuôi gà của bà con

Khu vực Hang chùa São - xã Tân Lập

Mô hình các hộ nuôi lươn trên địa bàn xã

Chiều trên hồ xã Phan Thanh

Con đường qua cánh đồng lúa của xã

Cảnh yên bình tại vùng nông thôn xa Phan Thanh

Cán bộ hướng dẫn bà con cách trồng ngô

Một góc bình nguyên xanh xã Khai Trung

Cây đậu tương được trồng nhiều ở xã Khai Trung

Chùa tháp Hắc Y - đền Đại Cại nằm trong Quần thể di tích Hoàng thành Yên Bái.

Lễ hội đền Đại Kại

Lễ trao quà cho bà con
Dự án bất động sản tại Xã Tân Lĩnh, Lục Yên - Yên Bái
Hiện chưa có dự án nào tại Xã Tân Lĩnh, Lục Yên - Yên Bái
Xã Tân Lĩnh gần với xã, phường nào?
Bản đồ vị trí Tân Lĩnh
Ghi chú về Xã Tân Lĩnh
Thông tin về Xã Tân Lĩnh, Tỉnh Lào Cai liên tục được cập nhật tại tinbds.com. Nếu bạn thấy thông tin không chính xác, vui lòng góp ý với ban quản trị website tinbds.com. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn đóng góp của bạn.
Từ khóa tìm kiếm:
Xã Tân Lĩnh, Tỉnh Lào Cai: mã số, diện tích, dân số, mật độ dân số; Xã Tân Lĩnh sau sáp nhập
Từ khóa tìm kiếm:
Xã Tân Lĩnh, Tỉnh Lào Cai: mã số, diện tích, dân số, mật độ dân số; Xã Tân Lĩnh sau sáp nhập
Xem trên Google Maps