Xã Đại Thanh, Thành phố Hà Nội sau sáp nhập
Mục lục:
Thông tin tổng quan về Xã Đại Thanh sau sáp nhập
Xếp hạng Xã Đại Thanh
Xã Đại Thanh thành lập theo nghị quyết Số: 1656/NQ-UBTVQH15; Ngày: 16/06/2025Thông tin cơ bản:
- Mã số: 00664
- Trung tâm hành chính: Thôn Quỳnh Đô, xã Đại Thanh
- Diện tích: 18.92 km²
- Dân số: 92,557 người
- Mật độ dân số: 4,871 người/km²
- Sáp nhập từ: Xã Tam Hiệp (huyện Thanh Trì) (phần còn lại sau khi sáp nhập vào phường Hoàng Liệt), Xã Hữu Hòa (phần còn lại sau khi sáp nhập vào phường Phú Lương), Phường Kiến Hưng/ha-dong/phuong-kien-hung" title="Phường Kiến Hưng">Phường Kiến Hưng (phần còn lại sau khi sáp nhập vào phường Phú Lương, phường Kiến Hưng), Thị trấn Văn Điển (phần còn lại sau khi sáp nhập vào phường Hoàng Liệt, xã Thanh Trì), Xã Tả Thanh Oai (phần còn lại sau khi sáp nhập vào phường Thanh Liệt), Xã Vĩnh Quỳnh (phần còn lại sau khi sáp nhập vào xã Thanh Trì)
Thông tin về Xã Tam Hiệp (cũ - trước sáp nhập):
Tam Hiệp là 1 xã của huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội, nước Việt Nam.
- Tổng diện tích theo k2 là: 5,6 km²
- Tổng số dân: 9.154 người (1999)
- Mật độ dân số đạt 1.635 người/km².
Kinh tế
Là 1 xã chủ yếu sản xuất hàng may mặc, sản xuất thú nhồi bông. Hàng giá rẻ nên rất nhiều đại lý ở khắp mọi miền đến tận Tam Hiệp lấy hàng mang đi khắp nước đặc biệt là chợ Đồng Xuân - Hà Nội, sang Lào, Campuchia... Xã trở thành xã du lịch để những khách du lịch tham quan về cách làm ăn ở nông thôn Việt Nam. Nhà cao cửa rộng, đường đẹp rất nhiều... trở thành một hiện tượng ở nông thôn Việt Nam.
Tam Hiệp đón nhận danh hiệu Anh hùng năm 2005. Nằm trong rất ít xã có thu nhập bình quân đầu người 50 triệu/năm.
Toàn xã có 2 cụm công nghiệp. Dự án cụm công nghiệp Nam Phúc Thọ rộng 100ha sẽ bắt đầu được khởi công từ năm 2016.
*Phát triển nghề ở Tam Hiệp:
Nhờ có nghề làm thú nhồi bông, may mặc, chế biến nông sản, đời sống của người dân trên địa bàn xã Tam Hiệp, huyện Phúc Thọ được nâng cao từng ngày. Bởi vậy, phát triển ngành nghề là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu của địa phương này.
Giàu lên nhờ nghề
Khác với sự trầm lắng tại nhiều làng nghề hiện nay, xã Tam Hiệp vẫn nhộn nhịp không khí sản xuất . Tuyến đường trục chính của xã chạy dài qua các cụm dân cư, đã hình thành một phố nghề nho nhỏ với các cửa hàng bày bán, giới thiệu quần áo, sản phẩm may mặc phong phú và thú nhồi bông đủ loại. Một trong những nghề có "thâm niên" và phát triển khá mạnh mẽ ở Tam Hiệp là may mặc. Ông Nguyễn Văn Nho - chủ cơ sở sản xuất hàng may mặc Đạo Nho, cụm 3, xã Tam Hiệp cho biết, hàng hóa của làng nghề chủ yếu là sản phẩm bình dân nên dễ tiêu thụ. Hiện, cơ sở của ông Nho đang tạo việc làm cho hơn 10 lao động, với mức lương bình quân 100.000 - 150.000 đồng/người/ngày. Lợi nhuận của cơ sở đạt hàng trăm triệu đồng mỗi năm.
Cùng với nghề may, Tam Hiệp còn nổi tiếng với nghề làm thú nhồi bông. Dù mới phát triển chưa lâu nhưng nghề này đang nhân rộng và cho thu nhập khá cao. Một trong những cơ sở sản xuất thú nhồi bông lớn nhất của xã Tam Hiệp là cơ sở Hoa Thái với quy mô gần 3.000m2. Hiện nay, cơ sở này tạo việc làm thường xuyên cho trên 20 lao động với mức lương bình quân 3 triệu đồng/người/tháng. Theo anh Trần Huy Hoa - chủ cơ sở sản xuất thú nhồi bông Hoa Thái, nghề này không nặng nhọc nhưng đòi hỏi sự khéo léo và chịu khó, thích hợp với lao động nữ ở nông thôn. Điều đáng mừng là sản phẩm thú nhồi bông của xã Tam Hiệp rất được ưa chuộng tại thị trường Hà Nội và các tỉnh, thành.
Ngoài hai nghề trên, xã Tam Hiệp còn có nghề in thêu và chế biến nông sản (muối cà dầm tương). Theo UBND xã Tam Hiệp, toàn xã có hơn 3.000 hộ dân với 11.600 nhân khẩu. Trong đó, cùng với sản xuất nông nghiệp, hầu hết các hộ dân đều làm thêm nghề. Nhờ có các ngành nghề này, đời sống của người dân trong xã được nâng lên đáng kể. Thu nhập bình quân đầu người của xã hiện đạt 29 triệu đồng/người/năm. Tỷ lệ hộ nghèo chỉ còn khoảng 2,1%, thấp nhất trong số 23 xã, thị trấn trên địa bàn huyện. Ngoài ra, các cơ sở sản xuất nghề tại xã còn tạo việc làm cho hàng ngàn lao động từ các xã lân cận như Ngọc Tảo, Hiệp Thuận, Liên Hiệp, Thanh Đa...
Phát triển theo chiều sâu
Có thể nói, trong quá trình làm nghề, các hộ sản xuất tại xã Tam Hiệp khá nhanh nhạy nắm bắt được thị hiếu của người tiêu dùng, chủ động thay đổi kiểu dáng, mẫu mã. Với nghề may mặc, các hộ sản xuất theo mùa, mùa hè may áo chống nắng, áo phông còn mùa đông may áo phao, áo rét. Sản phẩm của làng nghề cũng có giá rất bình dân, chỉ từ 20.000 - 70.000 đồng/sản phẩm. Đối với nghề làm thú nhồi bông, các hộ sản xuất thường xuyên cho ra lò các sản phẩm thú trong các bộ phim hoạt hình như: Doraemon, gấu Pooh, mèo Oggy... Bởi vậy, sản phẩm làm ra được tiêu thụ khá thuận lợi. Các mặt hàng quần áo, thú nhồi bông của Tam Hiệp hiện nay đã có mặt ở hầu khắp các tỉnh, TP trên cả nước.
Tuy nhiên, việc sản xuất chủ yếu theo quy mô hộ gia đình, kiểu dáng, chất lượng sản phẩm không đồng đều, khó khăn về nguồn vốn và mặt bằng là những rào cản sự phát triển của Tam Hiệp. Chị Nguyễn Thị Loan - chủ cơ sở sản xuất hàng may mặc Loan Huệ, cụm 3, xã Tam Hiệp chia sẻ, với quy mô xưởng gồm 5 nhân công, cơ sở của chị cần hàng trăm triệu đồng để quay vòng sản xuất. Do cần vốn nên chị Loan chủ yếu vay từ bên ngoài với lãi suất cao (1,3%). Trong khi đó, nguồn vốn hỗ trợ cho các hộ sản xuất nghề còn hạn chế. Bởi vậy, chị Loan cũng như nhiều hộ làm nghề tại xã Tam Hiệp kiến nghị được tạo điều kiện cho vay vốn ưu đãi để phát triển sản xuất.
Riêng về mặt bằng sản xuất, ông Trần Văn Huân - Phó Chủ tịch UBND xã Tam Hiệp cho biết, xã đã quy hoạch khu tiểu thủ công nghiệp làng nghề diện tích 20ha để đưa các hộ dân ra sản xuất tập trung. Hiện tại, vị trí, diện tích khu này đã xác định được nhưng lại nằm trong quỹ đất 1 nên gặp khó khăn về kinh phí giải phóng mặt bằng. Ông Huân khẳng định thêm, phát triển ngành nghề là hướng đi chủ đạo của xã để nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho người dân. Do đó, xã đã tuyên truyền, định hướng cho các hộ dân tập trung nâng cao chất lượng sản phẩm, hướng tới xây dựng thương hiệu làng nghề. Ông Huân cũng kiến nghị, huyện, TP có chính sách hỗ trợ xã xây dựng khu tiểu thủ công nghiệp làng nghề để sản xuất sớm đi vào ổn định.
Phường / Xã / Thị trấn cùng tên Tam Hiệp:
- Xã Tam Hiệp - Huyện Núi Thành - Tỉnh Quảng Nam
- Xã Tam Hiệp - Huyện Châu Thành - Tỉnh Tiền Giang
- Xã Tam Hiệp - Huyện Yên Thế - Tỉnh Bắc Giang
- Xã Tam Hiệp - Huyện Bình Đại - Tỉnh Bến Tre
- Phường Tam Hiệp - Thành phố Biên Hòa - Tỉnh Đồng Nai
Thông tin về Xã Hữu Hòa (cũ - trước sáp nhập):
Hữu Hòa là 1 xã của huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.
Năm 1949, các làng: Hữu Thanh Oai, Hữu Lê, Hữu Chung, Phú diễn và Hữu Từ sáp nhập thành xã Hữu Hòa, thuộc huyện Thanh Oai. Hòa bình lập lại, xã Hữu Hòa thuộc huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông; đến năm 1961 cắt về huyện Thanh Trì (Hà Nội)
Vị trí địa lý
Xã Hữu Hòa nằm ở phía tây huyện Thanh Trì. Ranh giới hành chính như sau:
- Phía đông bắc, đông nam giáp với xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì (ranh giới tự nhiên là sông Nhuệ);
- Phía nam giáp với xã Cự Khê, huyện Thanh Oai;
- Phía tây, tây bắc và bắc giáp phường Kiến Hưng, Quận Hà Đông.
Làng Hữu Thanh Oai
Làng Hữu Thanh Oai, còn có tên là Hữu Châu, tên Nôm là làng Tó Hữu, nằm bên bờ phải sông Nhuệ (bên kia sông là làng Tả Thanh Oai, hay Tó Tả). Cuối thời Lê, đầu thời Nguyễn, Hữu Thanh Oai là một xã thuộc tổng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, phủ Ứng Thiên, trấn Sơn Nam Thượng (từ năm 1831 thuộc tỉnh Hà Nội, năm 1902 thuộc tỉnh Cầu Đơ, năm 1904 đổi làm tỉnh Hà Đông).
Sau Cách mạng Tháng Tám, làng Tó Hữu thành lập chính quyền lâm thời riêng, năm 1949, làng nhập với các làng: Hữu Lê, Hữu Chung và Hữu Từ thành xã Hữu Hòa, thuộc huyện Thanh Oai. Hòa bình lập lại, xã Hữu Hòa thuộc huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông; đến năm 1961 cắt về huyện Thanh Trì (Hà Nội).
Hữu Thanh Oai nằm bên sông Nhuệ, lại là nơi hợp lưu của sông này với sông Tô từ nội thành chảy ra. Xưa kia, hai dòng sông là đường giao thông thủy quan trọng đối với việc đi lại, sản xuất của làng với bên ngoài. Cầu Tó bắc qua sông Nhuệ được xây từ thời Nguyễn nối làng với đường 70 (từ Văn Điển đi Hà Đông) ở bên kia sông, tạo thêm thế thông thương cho làng. Ven sông Nhuệ - đoạn ở đầu làng, kề cận khu vực đình Hoa Xá của làng Tả Thanh Oai là một bến quan trọng, có chợ họp đông đúc, trên bến dưới thuyền.
Tuyến đường sông, kết hợp với đường bộ này tạo điều kiện cho dân làng mở mang buôn bán, vào nội thành, lên vùng trung du và miền núi để có thêm thu nhập, khắc phục tình trạng nguồn thu nông nghiệp thấp và bấp bênh do đồng ruộng của làng đa phần ruộng là chiêm trũng, hàng năm thường bị úng ngập bởi nước lũ sông Nhuệ.
Làng Tó Hữu thời Nguyễn có họ Đoàn nổi tiếng là dòng họ học hành thành đạt với 4 người đỗ Cử nhân. Mở đầu là Đoàn Trọng Huyên (khoa Tân Mão đời Minh Mạng - 1831), làm quan đến chức Thị giảng Học sĩ, Đốc học Bắc Ninh; hai con là Đoàn Bưu (khoa Canh Ngọ đời Tự Đức - 1870), làm quan Tri phủ; Đoàn Triển (khoa Bính Tuất đời Đồng Khánh - 1886), làm quan đến chức Tuần phủ, Hiệp biện Đại Học sĩ. Ông là tác giả của nhiều cuốn sách, trong đó có tiếng nhất là cuốn "An Nam phong tục sách" viết về các phong tục nước ta và "Đoàn Tuần phủ công độc"- nguyên là tờ trình của ông với tư cách một viên quan Tuần phủ xin triều đình chỉnh đốn công tác giáo dục, soạn thảo sách giáo khoa và chế độ thi cử còn nhiều bất cập. Cháu nội Đoàn Trọng Huyên là Đoàn Vỹ đỗ khoa Bính Ngọ đời Thành Thái (1906). Ngoài ra còn có Đào Bá Khởi đỗ Cử nhân khoa Đinh Mão đời Tự Đức (1867).
Làng Tó Hữu có ngôi đình thờ Lê Hoàn. Theo thần phả, vào năm 981, Lê Hoàn đã dẫn đại quân ra Bắc để phá cuộc xâm lược của nhà Tống. Ông theo đường sông Nhuệ đến các làng Tó. Tại Tó Hữu, Lê Hoàn đã dừng chân trên gò đất có hình con rùa ở xứ Đồng Gạc, tục gọi là Rừng Mơ. Dân làng ra chúc tụng và dâng cỗ chay. Về sau, dân làng lập miếu thờ ông trên gò này và thờ ông ở đình. Đình đã được xếp hạng là Di tích lịch sử văn hóa năm 1992.
Thông tin về Phường Kiến Hưng (cũ - trước sáp nhập):
Kiến Hưng là một phường nằm ở phía đông quận Hà Đông, Hà Nội. Phường Kiến Hưng được thành lập theo Quyết định số 19/NQ-CP của Chính phủ Việt Nam ngày 08/5/2009 với diện tích 424,15 ha diện tích tự nhiên và 11.390.
Các số điện thoại quan trọng
UBND phường Kiến Hưng: 0433 825 660Vị trí địa lý
Địa giới hành chính phường Kiến Hưng:- Phía Đông giáp với xã Hữu Hòa, huyện Thanh Trì;
- Phía Tây giáp phường Hà Cầu, phường Phú La, Quận Hà Đông;
- Phía Nam giáp với xã Cự Khê, huyện Thanh Oai và phường Phú Lương, quận Hà Đông;
- Phía Bắc giáp phường Phúc La, quận Hà Đông và xã Tân Triều, huyện Thanh Trì.
Giao thông
Trên địa bàn phường có quốc lộ 70A, tuyến đường sắt Văn Điển - Hà Đông - Đông Anh; dự án đường trục phía nam Hà Nội và có dòng sông Nhuệ Giang chảy qua.Di tích lịch sử
Làng Đa SĩKiến Hưng có làng Đa Sĩ là một làng cổ nổi tiếng ở Hà Nội. Làng Đa Sĩ là một làng quê hiếu học, giỏi nghề rèn. Dưới triều đại phong kiến Đa Sĩ là làng có nhiều người thi thố đỗ đạt cao. Trải qua các triều đại phong kiến, làng có tên cổ là Huyền Khê được đổi thành Đa Sĩ vì có nhiều người đỗ tiến sĩ. Đa Sĩ có 11 tiến sĩ, trong số này có hai người là trạng nguyên, một người là lưỡng quốc trạng nguyên. Đa Sĩ còn nổi tiếng bởi nghề rèn. Các sản phẩm rèn Đa sĩ phục vụ sản xuất nông nghiệp có mặt khắp mọi miền Việt Nam. Làng Đa Sĩ còn có nhiều bài thuốc nam rất hiệu nghiệm như: sốt rét, ngã nước, trúng độc, tiêu chảy, sài đẹn. Đây là những bài thuốc do Đức thánh Thánh Hoàng làng - Danh nhân văn hóa - Danh y - Lương dược hầu - Người thầy thuốc quân y đầu tiên của quân đội Việt Nam, lương dược linh thông cư sĩ Hoàng Đôn Hòa nghiên cứu, sử dụng hiệu quả đóng góp công sức to lớn vào việc bảo vệ, chăm sóc sức khỏe binh lính và nhân dân. Hiệu quả của các bài thuốc nổi tiếng đến mức ông được vua Lê Thế Tông cử giữ chức Điều hộ lục quân, sau đó được gia phong chức thị nội Thái y viện thủ phiên và được nhà vua chọn làm phò mã gả con gái là Phương Anh công chúa. Ông cũng được làm Thủ phiên tại Thái y viện. Trong lần đi sứ sang triều đình Mãn Thanh, ông đã chữa được bệnh nan y cho vua Càn Long và được phong danh hiệu "Lịch thế y". Ông có công lưu giữ, biên soạn, bổ sung cuốn sách "Hoạt nhân toát yếu" (Phép cốt yếu cứu người) của Hoàng Đôn Hòa bao gồm 201 phương thuốc chữa bệnh đơn giản; kinh nghiệm ứng trị 103 phương thuốc nội khoa, 21 phương thuốc ngoại khoa, 11 phương thuốc phụ khoa, 6 bài thuốc thương khoa, 5 bài thuốc nhi khoa, 55 bài thuốc trị bệnh cho thú vật. Ngoài ra còn kèm một thiên về "Tính mệnh khuê tăng chi bổ" (Giữ gìn bồi bổ súc khỏe, tính mệnh con người, kéo dài tuổi thọ).
Chùa Mậu Lương
Chùa Mậu Lương còn được gọi là chùa Đại Bi. Đây là một quần thể chùa và miếu được xếp hạng di tích lịch sử quốc gia ở làng Mậu Lương, phường Kiến Hưng, Quận Hà Đông, thành phố Hà Nội. Chùa Mậu Lương tọa lạc trong khuôn viên có tổng số diện tích theo km2 hơn 2.000m2, tổng thể mặt bằng kiến trúc bao gồm: tam quan, chùa chính, đền thờ, nhà tế, nhà khách và nhà hậu, được phân bố theo hình chữ Chi (之). Hệ thống tượng Phật bằng đất sơn son thếp vàng, niên đại sớm nhất là thế kỷ XVII.
Chùa còn lưu giữ một số hoa văn điển hình và đặc trưng như phù điêu bia đời Cảnh Hưng với tên Đại Bi tự bi lục. Trán bia phía trước chạm rồng, kiểu nghệ thuật thời nhà Mạc, điểm xuyết quanh rồng là hạt tròn nổi cùng những cụm mây. Trán bia phía sau chạm phượng chầu mặt trăng, hình thức chạm phóng khoáng mang nét dân gian, cánh phượng như cánh chim, cánh gà bình thường, tượng trưng cho sự phồn thực, dân dã. Chùa Mậu Lương Hà Đông hiện là một trong những điểm du lịch của Hà Nội.
Thông tin về Phường Kiến Hưng (cũ - trước sáp nhập):
Kiến Hưng là một phường nằm ở phía đông quận Hà Đông, Hà Nội. Phường Kiến Hưng được thành lập theo Quyết định số 19/NQ-CP của Chính phủ Việt Nam ngày 08/5/2009 với diện tích 424,15 ha diện tích tự nhiên và 11.390.
Các số điện thoại quan trọng
UBND phường Kiến Hưng: 0433 825 660Vị trí địa lý
Địa giới hành chính phường Kiến Hưng:- Phía Đông giáp với xã Hữu Hòa, huyện Thanh Trì;
- Phía Tây giáp phường Hà Cầu, phường Phú La, Quận Hà Đông;
- Phía Nam giáp với xã Cự Khê, huyện Thanh Oai và phường Phú Lương, quận Hà Đông;
- Phía Bắc giáp phường Phúc La, quận Hà Đông và xã Tân Triều, huyện Thanh Trì.
Giao thông
Trên địa bàn phường có quốc lộ 70A, tuyến đường sắt Văn Điển - Hà Đông - Đông Anh; dự án đường trục phía nam Hà Nội và có dòng sông Nhuệ Giang chảy qua.Di tích lịch sử
Làng Đa SĩKiến Hưng có làng Đa Sĩ là một làng cổ nổi tiếng ở Hà Nội. Làng Đa Sĩ là một làng quê hiếu học, giỏi nghề rèn. Dưới triều đại phong kiến Đa Sĩ là làng có nhiều người thi thố đỗ đạt cao. Trải qua các triều đại phong kiến, làng có tên cổ là Huyền Khê được đổi thành Đa Sĩ vì có nhiều người đỗ tiến sĩ. Đa Sĩ có 11 tiến sĩ, trong số này có hai người là trạng nguyên, một người là lưỡng quốc trạng nguyên. Đa Sĩ còn nổi tiếng bởi nghề rèn. Các sản phẩm rèn Đa sĩ phục vụ sản xuất nông nghiệp có mặt khắp mọi miền Việt Nam. Làng Đa Sĩ còn có nhiều bài thuốc nam rất hiệu nghiệm như: sốt rét, ngã nước, trúng độc, tiêu chảy, sài đẹn. Đây là những bài thuốc do Đức thánh Thánh Hoàng làng - Danh nhân văn hóa - Danh y - Lương dược hầu - Người thầy thuốc quân y đầu tiên của quân đội Việt Nam, lương dược linh thông cư sĩ Hoàng Đôn Hòa nghiên cứu, sử dụng hiệu quả đóng góp công sức to lớn vào việc bảo vệ, chăm sóc sức khỏe binh lính và nhân dân. Hiệu quả của các bài thuốc nổi tiếng đến mức ông được vua Lê Thế Tông cử giữ chức Điều hộ lục quân, sau đó được gia phong chức thị nội Thái y viện thủ phiên và được nhà vua chọn làm phò mã gả con gái là Phương Anh công chúa. Ông cũng được làm Thủ phiên tại Thái y viện. Trong lần đi sứ sang triều đình Mãn Thanh, ông đã chữa được bệnh nan y cho vua Càn Long và được phong danh hiệu "Lịch thế y". Ông có công lưu giữ, biên soạn, bổ sung cuốn sách "Hoạt nhân toát yếu" (Phép cốt yếu cứu người) của Hoàng Đôn Hòa bao gồm 201 phương thuốc chữa bệnh đơn giản; kinh nghiệm ứng trị 103 phương thuốc nội khoa, 21 phương thuốc ngoại khoa, 11 phương thuốc phụ khoa, 6 bài thuốc thương khoa, 5 bài thuốc nhi khoa, 55 bài thuốc trị bệnh cho thú vật. Ngoài ra còn kèm một thiên về "Tính mệnh khuê tăng chi bổ" (Giữ gìn bồi bổ súc khỏe, tính mệnh con người, kéo dài tuổi thọ).
Chùa Mậu Lương
Chùa Mậu Lương còn được gọi là chùa Đại Bi. Đây là một quần thể chùa và miếu được xếp hạng di tích lịch sử quốc gia ở làng Mậu Lương, phường Kiến Hưng, Quận Hà Đông, thành phố Hà Nội. Chùa Mậu Lương tọa lạc trong khuôn viên có tổng số diện tích theo km2 hơn 2.000m2, tổng thể mặt bằng kiến trúc bao gồm: tam quan, chùa chính, đền thờ, nhà tế, nhà khách và nhà hậu, được phân bố theo hình chữ Chi (之). Hệ thống tượng Phật bằng đất sơn son thếp vàng, niên đại sớm nhất là thế kỷ XVII.
Chùa còn lưu giữ một số hoa văn điển hình và đặc trưng như phù điêu bia đời Cảnh Hưng với tên Đại Bi tự bi lục. Trán bia phía trước chạm rồng, kiểu nghệ thuật thời nhà Mạc, điểm xuyết quanh rồng là hạt tròn nổi cùng những cụm mây. Trán bia phía sau chạm phượng chầu mặt trăng, hình thức chạm phóng khoáng mang nét dân gian, cánh phượng như cánh chim, cánh gà bình thường, tượng trưng cho sự phồn thực, dân dã. Chùa Mậu Lương Hà Đông hiện là một trong những điểm du lịch của Hà Nội.
Thông tin về Thị trấn Văn Điển (cũ - trước sáp nhập):
Văn Điển là một thị trấn thuộc huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội, nước Việt Nam.
- Tổng diện tích theo k2 là: 0,9 km²
- Tổng số dân: 10576 người (1999)
- Mật độ dân số đạt 11751 người/km².
Thị trấn Văn Điển được thành lập năm 1958 trên cơ sở một phần diện tích tự nhiên và dân số của xã Tứ Hiệp.
Năm 1984, thị trấn Văn Điển được mở rộng thêm trên cơ sở sáp nhập một phần diện tích tự nhiên và dân số của các xã Tứ Hiệp, Tam Hiệp và Vĩnh Quỳnh.
Kinh tế
Ngày nay, thị trấn Văn Điển đã có nhiều đổi mới, giành nhiều thành tích phát triển kinh tế – xã hội, năm 2014 thu nhập bình quân đầu người đạt 25 triệu đồng/năm; văn hóa, giáo dục phát triển, hoàn thành phổ cập cấp tiểu học và THCS, có 5/6 trường học đạt chuẩn quốc gia; an ninh chính trị giữ vững, tỷ lệ gia đình đạt văn hóa chiếm 94,7%. Nhân dân phấn khởi, đoàn kết chung sức đồng lòng, đang nỗ lực cùng Đảng bộ, chính quyền tập trung phát triển sản xuất, công nghiệp, dịch vụ, thương mại, nông nghiệp nông thôn để hoàn thành cao nhất kế hoạch, chỉ tiêu năm 2015; Đại hội Đảng các cấp và các nhiệm vụ chính trị đề ra.
Thông tin về Phường Thanh Trì (cũ - trước sáp nhập):
Thanh Trì là một đơn vị hành chính cấp phường thuộc quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.
- Tổng diện tích theo k2 là: 333,80 ha
- Tổng số dân: 10.200 người.
Phường này được thành lập dựa trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của xã Thanh Trì cũ thuộc huyện Thanh Trì.
Phương Thanh Trì bao gồm các xóm như: Đại Đồng,Xóm Đồng,Tân Thành,Xóm Đình,xóm Sét và Vĩnh Thuận...
Phường có 01 trường Tiểu học, và 1 trường Trung Học đều mang tên Thanh Trì.
Một trong thế mạnh của phường là món ăn ẩm thực bánh cuốn thanh trì, đã có từ lâu đời, món ăn vừa bình dân mà không kém phần thanh tao, hiện số hộ gia đình còn giữ gìn phát huy truyền thống không nhiều, mặc dù có rất nhiều địa phương cũng làm món bánh cuốn, song thương hiệu bánh cuốn thanh trì không thể lẫn với bánh cuốn với các địa phương khác.
Các số điện thoại quan trọng
UBND phường Thanh Trì: 2.2135948
Vị trí địa lý
Địa giới hành chính phường Thanh Trì:
- Phía Đông giáp huyện Gia Lâm (sông Hồng là ranh giới)
- Phía Tây giáp quận Hai Bà Trưng
- Phía Nam giáp các phường Vĩnh Hưng, Lĩnh Nam
- Phía Bắc giáp quận Long Biên (sông Hồng là ranh giới).
Thông tin về Xã Tả Thanh Oai (cũ - trước sáp nhập):
Tả Thanh Oai là một xã của huyện Thanh Trì thành phố Hà Nội, nước Việt Nam.
Xã Tả Thanh Oai gồm các thôn làng: Tả Thanh Oai (tên nôm là Tó Tả), Thượng Phúc, Nhân Hòa, Siêu Quần.
Vị trí địa lý
Xã Tả Thanh Oai nằm ở phần phía Tây của huyện Thanh Trì, phía Bắc giáp với xã Thanh Liệt của Thanh Trì, góc phía Tây Bắc giáp với xã Tân Triều của Thanh Trì và phường Phúc La quận Hà Đông, phía Tây giáp với xã Hữu Hòa của Thanh Trì (ranh giới là sông Nhuệ), phía Tây Nam và Nam giáp huyện Thanh Oai (các xã Cự Khê, Mỹ Hưng) ranh giới là sông Nhuệ. Phía Đông, Tả Thanh Oai tiếp giáp với các xã cùng huyện: Đại Áng (ở phía Đông Nam), Vĩnh Quỳnh (chính giữa phía Đông), Tam Hiệp (phía Đông Bắc).
Tả Thanh Oai nằm bê bờ tả sông Nhuệ, phía Bắc có đường 70A Văn Điển-Hà Đông chạy qua, ngang qua chính giữa xã là tuyến đường sắt vành đai Văn Điển-Ba La-Phú Diễn chạy từ hướng xã Vĩnh Quỳnh sang xã Hữu Hòa.
Lịch sử
Vào đầu thế kỷ 19, vùng đất Tả Thanh Oai ngày nay là các xã, thôn (làng) của 2 tổng Tả Thanh Oai (Tả Thanh Oai, Nguyễn Thượng, Ngũ Phúc-Hạ Thanh Oai) và Đại Định (Siêu Quần), đều của huyện Thanh Oai phủ Ứng Thiên (tức Ứng Hòa) trấn Sơn Nam Thượng. Năm 1831, thành lập tỉnh Hà Nội, các làng xã này cùng toàn bộ phủ Ứng Hòa nhập về tỉnh Hà Nội.
Làng Tả Thanh Oai
Làng Tả Thanh Oai (làng Tó hay Tó Tả) thuộc xã Tả Thanh Oai huyện Thanh Trì được cả nước biết đến là làng khoa bảng với 12 người đỗ đại khoa, gồm 4 Hoàng giáp và 8 Tiến sĩ, có họ Ngô với dòng Ngô gia văn phái và các danh nhân Ngô Thì Sĩ, Ngô Thì Nhậm đã đi vào lịch sử đất nước. Ngoài ra còn có 27 hương cống thời Lê, 10 cử nhân thời Nguyễn.
Những người đỗ đại khoa thuộc 4 họ: Nguyễn Khai Khoa, Ngô Vi, Ngô Thì và Nguyễn Thế. Họ Nguyễn k Khai Khoa có 3 tiến sĩ là Nguyễn Chỉ (đỗ năm 1453), Nguyễn Khánh Dung (1478). Nguyễn Tông Trình (1754). Trước đây, đầu dịp hội làng (ngày 14 tháng giêng), quan viên trong làng phải ra lễ ở mộ tổ và ở nhà thờ họ này.
Họ Ngô Thì (Ngô Thời) có 6 tiến sĩ là: Ngô Tuấn Dị (đỗ năm 1688), Ngô Đình Thạc (1700), Ngô Đình Chất (em Đình Thạc, 1721), Ngô Thì Sĩ (Hoàng giáp, 1766), Ngô Thì Nhậm (1775) và Ngô Điền (Hoàng giáp, 1841).
Họ Ngô Vi là dòng họ lập ấp đầu tiên, có 2 người đỗ là Ngô Vi Thực (Hoàng giáp, 1691) và Ngô Vi Nho (1694).
Những người đỗ đại khoa của làng Tó có Ngô Đình Thạc làm Tham tụng (Tể tướng), Ngô Đình Chất, Ngô Thì Nhậm làm Thượng thư, 2 người phụng mệnh đi sứ là Ngô Đình Thạc, Ngô Thì Nhậm (Chánh sứ sang nhà Thanh, có nhiều đóng góp cho việc ngoại giao của triều Tây Sơn). Ngô Thì Sĩ có nhiều công lao trong việc giữ yên và phát triển vùng biên giới Lạng Sơn. Ngô Đình Thạc là Trấn thủ Lạng Sơn, khi thành bị quân phỉ vây, ông chịu chết chứ không đầu hàng.
Đóng góp lớn nhất của các nhà khoa bảng làng Tó là về văn học, giáo dục. Hai cha con Ngô Thì Sĩ - Ngô Thì Nhậm là những danh nhân kiệt xuất, học vấn sâu rộng, làm rạng rỡ cho tông phái nhà Nho, vừa là quan văn, vừa là tướng, vừa là nhà sử học, nhà thơ, để lại nhiều tác phẩm có giá trị. Họ Ngô còn nổi tiếng với dòng Ngô gia văn phái, với thiên tiểu thuyết Hoàng Lê nhất thống chí có giá trị lớn về tư liệu lịch sử.
Để có sự thành đạt về khoa bảng, làng Tả Thanh Oai chế độ khuyến học thoả đáng. Làng dành 40 mẫu ruộng để làm học điền. Những người đỗ đạt được trọng vọng. Trong tâm thức của người làng, thế đất của làng phát đạt về mặt học hành nên có ý thức với việc học. Cuốn Lư sử điển yếu điều lệ (soạn năm 1791), viết:"Làng Tả Thanh Oai đất do sông Tô dẫn mạch, miếu do sông Nhuệ bồi cơ, danh đăng khoa giáp, thế phiết thi thư, quý mà không phú, phần nhiều là sĩ dân sính về đường học, coi là việc hàng đầu..."
Làng Tả Thanh Oai trước đây có 2 đình là đình Tổ Thị và đình Hoa Xá (nay chỉ còn đình Hoa Xá), thờ Lê Hoàn và Bà Chúa Hến – cô gái làng Tó được Lê Hoàn lấy làm phi trong dịp dẫn đại quân theo đường sông ra Bắc để tiêu diệt quân xâm lược Tống, ghé thăm làng (năm 981). Hội làng tổ chức trong 3 ngày: 13,14,15 tháng Giêng, có rước cỗ thờ và rước Giầu vàng từ đình Hoa Xá đến Minh Ngự Lâu (nhà Bà Chúa Hến) để kỉ niệm cuộc gặp gỡ tình duyên giữa Bà và Vua Lê Đại Hành. Ngoài ra còn các nghi lễ hát xướng ca ngợi công đức thành hoàng, cảnh đẹp, có đọc "Mục lục" đề cao truyền thống văn vật của làng, cầu chúc dân làng an khang thịnh vượng. Làng còn giữ được 4 chùa và đặc biệt là 4 nhà thờ của các dòng họ khoa bảng, nhà thờ các danh nhân Ngô Thì Sĩ, Ngô Thì Nhậm- các di tích phản ánh truyền thống hiếu học và khoa bảng của làng.
Làng Thượng Phúc
Làng Thượng Phúc nay là một thôn của xã Tả Thanh Oai (huyện Thanh Trì), vốn là hai làng Nguyễn Thượng và Ngũ Phúc (có tên Nôm là làng Hạ). Đầu thế kỷ XIX, hai làng này là hai thôn độc lập thuộc xã Hạ Thanh Oai, tổng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, phủ ứng Thiên, trấn Sơn Nam Thượng. Năm Minh Mạng thứ hai (1821), các quan trấn Bắc Thành đề nghị cho nhập hai thôn này thành một thôn mang tên Thượng Phúc. Đây là một làng đông dân (năm 1926, làng có 2092 nhân khẩu).
Theo "Lư sử điển yếu điều lệ" do Ngô Thì Nhậm soạn năm Cảnh Thịnh thứ hai (1794) thì làng được hình thành từ lâu, đến giữa thế kỷ XV, một bộ phận tù binh Chiêm Thành bị đày ra đây khai khẩn vùng đất trũng, mở mang làng xóm.
Thượng Phúc xưa kia là một làng nông nghiệp chiêm trũng. Đồng quanh năm trắng nước, việc cấy lúa rất vất vả, không chắc ăn. Vào năm 1939, chính quyền thuộc địa Pháp đã cho nắn đoạn sông Nhuệ, từ địa phận làng Siêu Quần xuống làng Đan Nhiễm, làm cho nước của con sông này thoát nhanh hơn vào mùa mưa lũ. Đồng ruộng của Thượng Phúc và 16 làng trong vùng tiêu nước dễ hơn, nạn úng lụt đã giảm đáng kể, việc làm ruộng thuận tiện hơn. Ngoài làm ruộng, dân làng còn khai thác nguồn thủy sản dồi dào trong đồng chiêm trũng, kết hợp buôn bán.
Làng Thượng Phúc có chùa Bảo Tháp, dân gian thường gọi là chùa Bồ Tát. Đây là ngôi chùa cổ, tương truyền do Nhà sư Lý Thầm - em trai Vua Lý Huệ Tông (1211 - 1224) dựng nên rồi tu hành tại đây. Điều này còn được minh chứng qua một số câu đối ở cột đồng trụ của Tam bảo chùa.
Đến gần cuối đời Trần, có một vị Cao tăng họ Hồ, dòng dõi hoàng thân quốc thích đã từ bỏ bổng lộc, quan tước về đây tu hành. Ngoài việc bỏ tiền của để tu tạo chùa, vị Cao tăng này còn chiêu tìm hàng trăm trẻ mồ côi, những người già nua không nơi nương tựa về nuôi dưỡng, trẻ em được cho ăn họ. Tiếng tăm của Hòa thượng đồn xa khắp mọi nơi. Biết ơn Hòa thượng, dân làng, nhất là những người cô quả đã tạc tượng sống Ngài. Khi Hòa thượng đắc đạo, được nhân dân và triều đình suy tôn là Bồ Tát và gọi chùa Bảo Tháp theo tên được tôn vinh của Ngài. Về sau, có vị Minh Từ Hoàng Thái hậu của Vua Trần về đây lánh nạn giặc Chiêm Thành tàn phá Kinh đô. Thấy Bà là người nhân đức, mộ đạo, Hòa thượng đã giao chùa cho Bà, rồi Ngài cho lập ngay hỏa đàn, trèo lên đàn tụng kinh và sai các đệ tử châm đàn. Lửa cháy rừng rực bốn bề mà Bồ Tát vẫn điềm nhiên đọc kinh Đại Tạng rồi toàn thân Ngài hóa thành than. Hôm đó là ngày 14 tháng Tư, nên hàng năm, dân làng và quanh vùng lấy ngày này làm ngày giỗ Tổ Chùa. Cho đến ngày nay, dân làng Thượng Phúc và trong vùng vẫn tế Bồ Tát bằng bài thơ Nôm thể lục bát.
Sau khi Bồ Tát hỏa thiêu, bà Hoàng Thái hậu trở thành Ni sư sớm hôm đèn nhang thờ Phật, trông nom và mở mang chùa. Dân làng Thượng Phúc kính phục Bà, xin được lập sinh từ ở mé trước chùa để thờ phụng sau này. Ba năm sau, có lệnh Bà phải về Kinh đô. Trước lúc về Kinh, Bà Thái hậu mở yến tiệc đãi dân làng vào ngày 16 tháng Hai. Tiệc đang vui thì Thái hậu trúng gió và qua đời.Vua Trần nghe tin, lệnh cho làng Thượng Phúc thờ Thái hậu làm Phúc thần cùng với Bồ Tát, tại cả chùa và đình (được lập về sau).
Đối chiếu với ghi chép trong chính sử (sách Đại Việt sử ký toàn thư) thì thấy, việc quân Chiêm Thành do Chế Bồng Nga chỉ huy vào tàn phá Kinh đô Thăng Long diễn ra vào năm Tân Hợi - 1371 dưới thời Vua Trần Nghệ Tông. Vì thế, bà Thái hậu về lánh nạn ở chùa Bảo Tháp làng Thượng Phúc chính là vợ Vua Nghệ Tông và là cô ruột của Hồ Quý Ly. Chút ít tư liệu này góp phần bổ sung lịch sử phong phú của Thăng Long- Hà Nội đời Trần.
Làng Nhân Hòa
Làng Nhân Hòa nay là một thôn của xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì. Lúc đầu gọi là trang Lữ Xuyên (hay Lữ Xuân); cuối thời Lê, đầu thời Nguyễn đổi tên thành Phú Điền và là một xã độc lập thuộc tổng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam Thượng. Thời Minh Mạng (1820 - 1841), làng được đổi tên thành Nhân Hòa, và thuộc tỉnh Hà Nội (năm 1902 đổi tên phần đất ngoại thành làm tỉnh Cầu Đơ, năm 1904 lại đổi làm tỉnh Hà Đông).
Trong kháng chiến chống Pháp, làng Nhân Hòa nhập với các làng Tả Thanh Oai, Siêu Quần, Thượng Phúc thành xã Đại Thanh thuộc huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông. Năm 1965, xã Đại Thanh đổi tên thành Tả Thanh Oai thuộc tỉnh Hà Tây (từ cuối năm 1975 là tỉnh Hà Sơn Bình). Đầu năm 1979, xã được chuyển về huyện Thanh Trì (Hà Nội).
Theo cuốn "Lư sử điển yếu điều lệ" - sách chữ Hán do nhóm Ngô gia văn phái soạn vào năm Cảnh Thịnh thứ hai (1794), Tiến sĩ triều Lê Nguyễn Đăng Sớ viết lời tựa, hiện còn lưu ở đình làng Tả Thanh Oai thì trang Lữ Xuyên - làng Nhân Hòa do các tù binh Chiêm Thành bị bức ra đây từ thời Lý để khai thác vùng đất trũng - nơi hợp lưu của sông Tô Lịch và sông Nhuệ. Qua bao thế kỷ, di duệ của những người Chăm đã hòa huyết, hòa đồng với người Việt sở tại để tạo lập nên làng xóm trù phú. Dấu ấn Chăm Pa còn lại rất mờ nhạt. Cơ cấu tổ chức, các sinh hoạt văn hóa của dân làng mang đậm phong cách người Việt.
Nhân Hòa là một làng nhỏ, năm 1926 chỉ 462 nhân khẩu. Dân đinh trong làng được chia làm hai giáp: giáp Hậu và giáp Hữu. Dân làng sống chủ yếu bằng trồng lúa và khai thác các nguồn thủy sản trong đồng trũng.
Đình làng Nhân Hòa dựng vào thời Lê - Trịnh, thờ hai vị thành hoàng là: Phương Dung Hoàng Thái hậu thời Lý Triệu Thị Lã và Đông Hải đại vương Đoàn Thượng - một thế lực quân sự mạnh vào cuối thời Lý. Có ý kiến cho rằng, bà Phương Dung Hoàng Thái hậu Triệu Thị Lã là Nhũ mẫu của Vua Lý Huệ Tông (cuối thế kỷ XII) và có công giúp đỡ cả Đoàn Thượng. Tại đình làng hiện còn đôi câu đối nói về việc này. Hai vị thành hoàng được các triều vua phong 38 đạo sắc hiện còn lưu trong đình. Đạo sớm nhất vào năm Đức Long thứ tư (1632).
Làng Nhân Hòa có ngôi chùa Phúc Lâm khá khang trang. Giá trị nhất của chùa là còn lưu hai tấm bia gắn với sự nghiệp của Lê Thời Hiến - vị tướng tài thời Lê - Trịnh. Bia "Bảo Đức bi ký" soạn vào niên hiệu Bảo Thái (1720 - 1727), nói về đức độ, tài năng của Lê Thời Hiến và đóng góp của vợ ông - bà Quận chúa) với chùa. Tấm bia thứ hai "Phúc Lâm tự, khâm minh văn" soạn năm Vĩnh Thịnh thứ hai (1706) nói về đóng góp của dân làng, các quý tộc, trong đó có gia đình Lê Thì Hiến trong việc tu bổ chùa.
Cả đình và chùa Nhân Hòa đã được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa (năm 1992).
Làng Nhân Hòa còn một di tích là đền Nghĩa. Theo bia "Tân tạo Nghĩa điền kim bi" soạn năm Thịnh Đức thứ hai (1654), hai giáp Hữu và Hậu thuộc xã Lữ Xuyên dựng đền này để thờ Tín chủ là bà Nguyễn Thị Ngọc Quyến và Thượng tướng quân Đô Chỉ huy sứ ty Nguyễn Quý Công, tự Phúc Thuận đã hiến cho làng 4 mẫu 7 sào ruộng và vườn, chia đều cho 2 giáp cày cấy. Hàng năm 2 giáp cúng giỗ ông bà theo ghi trong văn bia.
Làng Siêu Quần
Làng Siêu Quần, đầu thế kỷ XIX là 1 xã của tổng Đại Định, huyện Thanh Oai, phủ ứng Thiên, trấn Sơn Nam Thượng (từ năm Minh Mạng thứ 12 - 1831 là tỉnh Hà Nội, năm đầu đời Thành Thái - 1889 là tỉnh Cầu Đơ, năm 1904 đổi thành tỉnh Hà Đông). Trong kháng chiến chống Pháp, làng nhập với các làng Tả Thanh Oai, Nhân Hòa, Thượng Phúc thành xã Đại Thanh thuộc huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông. Năm 1965, xã Đại Thanh đổi tên thành Tả Thanh Oai. Từ đầu năm 1979, xã được chuyển về huyện Thanh Trì (Hà Nội).
Tên làng Siêu Quần bắt nguồn từ tên Nôm là Kẻ Gùn. "Gùn" có nghĩa là "quần tụ"; còn "Siêu" ý chỉ làng là nơi sinh tụ của dân từ rất nhiều địa phương khác nhau, trong đó một bộ phận lớn là từ huyện Vĩnh Lộc (tỉnh Thanh Hóa) và vùng Thuận Hóa (tỉnh Thừa Thiên - Huế) chuyển ra từ đầu thời Lê Sơ. Hơn sáu trăm năm trôi qua, người dân ở đây vẫn giữ được những âm gốc ở quê mình.
Theo truyền thuyết, lúc đầu, dân cư tập trung ở bờ Bắc sông Nhuệ. Sau một trận lũ lớn, nước ngập đến mái nhà, có một con chó mẹ tha đàn con đến một gò đất chếch về phía Đông - Nam. Dân làng thấy đó là điềm tốt nên sau trận lũ đã chuyển đến gò đất đó sinh sống, tức trung tâm làng bây giờ. Sau đó, dân các nơi thấy đất này dễ làm ăn, con người thuần hậu nên kéo về ngày một đông. Trong đình hiện nay còn bức đại tự bốn chữ "Siêu bạt quần luân" hay câu ngạn ngữ "Lang bạt Siêu Quần, cao quan Kẻ Lủ" để chỉ việc này. Dân làng Siêu Quần xưa kia chủ yếu làm ruộng, song đa phần ruộng ở đây là chiêm trũng, hàng năm thường bị úng ngập bởi nước lũ sống Nhuệ nên năng suất lúa thấp và bấp bênh. Năm 1939, chính quyền thuộc địa Pháp cho nắn đoạn sông Nhuệ, từ địa phận của làng xuống làng Đan Nhiễm (huyện Thường Tín), làm cho đồng ruộng của làng cùng 16 làng khác trong vùng tiêu nước dễ hơn, nạn úng lụt đã giảm đáng kể. Đến năm 1942, người Pháp lại cho đào con máng từ Gò Quán làng Vĩnh Thịnh (xã Đại Áng) xuống cống Hai Cửa giáp làng Siêu Quần, để hạn chế thêm nạn úng lụt.
Đình làng Siêu Quần thờ hai vị thành hoàng. Vị đầu tiên là Trịnh Khả - người xã Sóc Sơn, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Ông là một trong 18 người có mặt tại Hội thề Lũng Nhai của Lê Lợi (năm Bính Thân - 1416), sau lập được nhiều chiến công trong việc đánh đuổi giặc Minh. Khi Lê Lợi lên ngôi (Lê Thái Tổ, 1428), ông được phong Hổ Vệ tướng quân, Thượng trụ quốc, Bình chương quân quốc trọng sự, khắc biển công thần. Về sau (năm 1451), do bị gian thần gièm pha, ông và cả con trai là Trịnh Bá Quát bị giết. Đời Lê Thánh Tông (1460 - 1497) được minh oan, trả lại quan tước, phong làm Phúc thần. Việc làng Siêu Quần thờ Trịnh Khả là do dân từ Sóc Sơn (Thanh Hóa) chuyển cư ra, đem theo cả thành hoàng ở làng gốc.
Vị thần thứ hai là Nguyễn Phục (? - 1470). Ông là người xã Thanh Tùng, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương, đỗ Hoàng giáp khoa Quý Dậu, niên hiệu Thái Hòa đời Vua Trần Nhân Tông (1453), làm quan đến chức Hàn lâm viện kiêm Vương phó (thầy dạy các vương tử). Năm Canh Dần (1470), Lê Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành, Nguyễn Phục được cử giữ chức Đốc lương (đốc suất vận chuyển lương thực). Đến cửa biển Tư Dung (gần thành phố Huế hiện nay), bị gió bão, thuyền lương đến chậm, Lê Thánh Tông nổi giận nên ông bị chém. Về sau, Vua biết ông bị oan, đã phong ôngg làm Phúc thần, nhiều làng xã vùng biển Tư Dung và ngoài Bắc thờ ông. Các triều vua về sau đều phong ông là "Đông Hải đại vương, Thượng đẳng thần". Việc làng Siêu Quần thờ ông là do có một bộ phận cư dân Huế từng thờ ông ở quê gốc chuyển cư ra đây.
Thông tin về Xã Vĩnh Quỳnh (cũ - trước sáp nhập):
Vĩnh Quỳnh là 1 xã của huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.
Vị trí địa lý
Xã Vĩnh Quỳnh nằm ở trung tâm huyện Thanh Trì. Ranh giới hành chính như sau:
- Phía đông giáp các xã Tứ Hiệp và Ngũ Hiệp
- Phía nam giáp các xã Ngọc Hồi và Đại Áng
- Phía tây giáp với xã Tả Thanh Oai
- Phía bắc giáp với xã Tam Hiệp và thị trấn Văn Điển.
Lịch sử
Vào đầu thế kỉ 19, nơi đây là phần đất các làng: Quỳnh Đô (một xã của tổng Cổ Điển) và Vĩnh Hưng Đặng (một xã đứng đầu tổng Vĩnh Hưng Đặng), đều thuộc phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam Thượng (từ năm 1831 trở đi là tỉnh Hà Nội, từ 1904 là tỉnh Hà Đông).
Đầu năm 1946, sau cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân cấp xã, hai làng Vĩnh Ninh và Quỳnh Đô nhập lại thành xã Vĩnh Quỳnh. Trong kháng chiến chống Pháp, xã Vĩnh Quỳnh nằm trong xã Việt Hưng, Đại Hưng (gồm 11 làng), đến tháng 7- 1956, liên xã Đại Hưng được chia thành 3 xã, trong đó có xã Đại Hưng gồm các thôn: Vĩnh Ninh, Quỳnh Đô và Ích Vịnh, năm 1968 đổi là xã Vĩnh Quỳnh.
Làng Vĩnh Ninh
Làng Vĩnh Ninh xa xưa có tên là trang Vĩnh Hưng Đặng, nên còn có tên Nôm là Kẻ Đặng. Đầu thế kỷ XIX là một xã đứng đầu tổng (tổng Vĩnh Hưng Đặng gồm 5 xã: Vĩnh Hưng Đặng, Đại Áng, Nguyệt Áng, Vĩnh Bảo và Vĩnh Hưng Trung) thuộc huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam Thượng. Cuối thế kỷ XIX, xã Vĩnh Hưng Đặng đổi thành Vĩnh Ninh, tên tổng cũng được đổi theo tên xã. Năm 1926 làng có 1645 nhân khẩu.
Tục truyền, làng Vĩnh Ninh hình thành từ thời Hùng Vương (di chỉ khảo cổ học Chùa Thông có niên đại cách đây 2400 năm, nằm sát làng góp phần chứng minh điều đó). Theo thần phả thì vào thời Hùng Vương thứ sáu, dân làng đã theo Xà Công và Bạch Công đánh giặc Ma Lôi và Xích Tỵ (giặc Mũi Đỏ). Cả hai vị được dân làng thờ làm thành hoàng. Thực ra, hai vị thành hoàng vốn là các vị thần liên quan đến việc thờ thần nước (Xà Công = Ông Rắn) và thần đất (Bạch Công = Ông Đất - Thổ Địa) - vốn là biểu hiện tín ngưỡng cổ xưa của cư dân nông nghiệp ruộng nước.
Năm 40 sau Công nguyên, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, đập tan ách đô hộ của nhà Hán, thu lại 65 thành trì rồi lên làm vua. Hai Bà đã về làng Vĩnh Ninh, gặp người con gái làng là Nàng Tía, có tài thao lược, liễn vời về triều, giao nhiệm vụ huấn luyện binh sĩ, chuẩn bị đánh địch. Năm 43, quân Hán do Mã Viện chỉ huy sang chiếm lại nước ta. Nàng Tía được Hai Bà Trưng giao chỉ huy một cánh quân lớn chặn địch ở cửa biển Thần Phù. Bà đã chiến đấu rất dũng cảm và hy sinh tại đây. Dân làng thương tiếc lập đền thờ, sau đưa về đình thờ làm thành hoàng.
Dân làng Vĩnh Ninh chủ yếu sống bằng làm ruộng và khai thác nguồn thủy sản trong đồng trũng. Một số buôn bán ở nội thành, phố Văn Điển và các chợ trong vùng.
Làng Vĩnh Ninh sớm tiếp thu ánh sáng cách mạng. Từ cuối năm 1938, tại đây đã có một số thanh niên, giáo chức và cả chức dịch tiến bộ giác ngộ cách mạng. Tháng 4 - 1940, khi cơ quan của Xứ ủy Bắc Kỳ đóng tại Nam Hoài Đức bị lộ, thì Vĩnh Ninh là nơi trú chân của một bộ phận cơ quan Xứ. Một Tỉnh ủy viên Hà Đông trong vai một thầy lang chữa bệnh đã đến Vĩnh Ninh, dựa vào mối quen biết với một viên Chánh tổng người làng này đã mở cửa hiệu thuốc Bắc tại đây, làm trạm liên lạc của Xứ ủy. Đồng chí Hoàng Văn Thụ - Bí thư Xứ ủy từng đến đây trong vai con bệnh để bàn với các cán bộ của Xứ để bàn các công việc chung. Từ cửa hiệu thuốc Bắc này, Xứ ủy đã xây dựng được trạm liên lạc của Xứ tại một quán cơm ở phố Văn Điển, để chỉ đạo phong trào cách mạng ở huyện Thanh Trì.
Vĩnh Ninh là quê hương của Thượng tướng Vương Thừa Vũ - một vị tướng của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Làng Quỳnh Đô
Làng Quỳnh Đô tên Nôm là Giả Quỳnh hay Kẻ Đô. Đầu thế kỷ 19, làng cũng là một xã của tổng Cổ Điển, phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam Thượng. Đầu năm 1946, sau cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân cấp xã, làng nhập với làng Vĩnh Ninh thành xã Vĩnh Quỳnh.
Quỳnh Đô nằm ở vị trí giao thông thủy bộ quan trọng. Về đường bộ, làng nằm trên một nhánh đường Thiên Lý từ phía Nam rẽ về các làng: Ngọc Hồi, Yên Kiện, Lạc Thị, Vĩnh Ninh, Quỳnh Đô, nối với đường 70 từ thị xã Hà Đông- Văn Điển, rồi lại theo đường Cầu Tiên- Quán Sét, lên Chợ Mơ vào Thăng Long.
Về đường thủy, làng nằm bên bờ sông Tô Lịch. Bến Quỳnh Đô xưa kia rộng rãi, bằng phẳng, kề cận sông rộng (thuyền có trọng tải một vài tấn đều đi được), có Cầu Giả (cầu Quỳnh Đô) xây bằng gạch bắc qua, vừa để nhân dân đi lại thuận tiện, vừa tạo ra nét đẹp duyên dáng, mềm mại cho dòng sông. Sông đã rộng, nước lại vừa trong và mát, hợp cùng với làng xóm, ruộng đồng thành một cảnh quan thơ mộng. Nhiều người coi bến Quỳnh Đô chính là Bến Thanh Trì- một trong "Thăng Long bát cảnh" (tám cảnh đẹp của Thăng Long) mà người Thanh (Trung Quốc) từng vịnh thơ ca ngợi cuối thế kỷ XVIII. Với vị trí đẹp và thuận tiện này nên suốt thời Lê (1428 - 1787), làng Quỳnh Đô là lỵ sở của huyện Thanh Trì.
Dân làng Quỳnh Đô sống bằng nông nghiệp, ngoài ra còn đánh bắt tôm cá trong đồng trũng. Nhờ có nguồn tôm cá này mà làng có nghề làm nước mắm với sản phẩm có uy tín trong vùng ("Nước mắm Kẻ Đô, cá rô Đầm Sét").
Người làng Quỳnh Đô có truyền thống thượng võ. Đây là đất vật nổi tiếng ("Lò vật Quỳnh Đô, giỏ cua Cổ Điển").
Làng Quỳnh Đô có ngôi đình thờ vọng Tô Hiến Thành (1102 - 1179) - vị Thái úy Phụ chính thời Lý, dưới hai triều Anh Tông (1138 - 1175) và Cao Tông (1176 - 1179) và ngôi chùa Linh Thông dựng từ thời Lê nhưng được sửa chữa nhiều vào thời Nguyễn. Cả đình và chùa đã được xếp hạng là Di tích lịch sử văn hóa (năm 1989).
Một bộ phận lớn diện tích đồng ruộng làng Quỳnh Đô nằm trong khu vực Đầm Mực - địa danh đã đi vào lịch sử chống ngoại xâm hào hùng của dân tộc. Rạng sáng mồng 5 Tết Kỷ Dậu (30 - 01 - 1789), quân Tây Sơn do Quang Trung chỉ huy công phá đồn Ngọc Hồi, quân Thanh đại bại, một bộ phận lớn quân địch tháo chạy tán loạn theo đường cái quan về Quỳnh Đô, Ích Vịnh; bị quân của Đô đốc Bảo ém ở làng Đại Áng hành quân lên chặn lại; một cánh khác chạy về hướng Văn Điển bị một cánh quân khác từ Yên Duyên hành quân theo bờ đê sông Hồng đón lõng, phải bật trở lại. Quân Thanh ở cả hai hướng này bị dồn vào Đầm Mực (phía Tây làng Quỳnh Đô) và bị tiêu diệt gần hết. Quân Tây Sơn thừa thắng, tiến vào Khương Thượng - Đống Đa, giải phóng Kinh thành Thăng Long vào chiều mồng 5 Tết.
Xem thêm:
- Nhà đất bán tại Thành phố Hà Nội
- Bán nhà riêng tại Thành phố Hà Nội
- Bán đất tại Thành phố Hà Nội
- Bán căn hộ chung cư tại Thành phố Hà Nội
- Bán nhà mặt phố tại Thành phố Hà Nội
- Nhà đất cho thuê tại Thành phố Hà Nội
- Dự án BĐS tại Thành phố Hà Nội
- Tin BĐS tại Thành phố Hà Nội
- Nhà môi giới BĐS tại Thành phố Hà Nội
Hình ảnh về Đại Thanh, Hà Nội

Đường làng ngõ xóm ở xã Tam Hiệp khang trang sạch đẹp.

Họp chợ lấn chiếm đường giao thông tại xã Tam Hiệp

Đình làng Hữu Thanh Oai

Trường mầm non Hữu Hòa

Trường THCS Hữu Hòa

Trụ sở UBND phường Kiến Hưng

Trụ sở UBND phường Kiến Hưng

Hệ thống giao thông tại thị trấn Văn Điển được nâng cấp và cải tạo.

Trường THCS Thị trấn Văn Điển

Trường Tiểu học A Thị trấn Văn Điển

UBND phường Thanh Trì

Trường Mầm non tư thục Tuổi Thần Tiên

Làng quê khang trang tại xã Vĩnh Quỳnh

Trường Tiểu học Vĩnh Quỳnh
Dự án bất động sản tại Xã Đại Thanh, Phúc Thọ - Hà Nội

SGO La Porta
Địa chỉ: Xã Phúc Hòa, Huyện Phúc Thọ, Hà Nội.

Khu Biệt Thự Sinh Thái Cẩm Đình
Địa chỉ: Đường Quốc lộ 32, Xã Tam Hiệp, Phúc Thọ, Hà Nội

Sunshine Heritage Resort
Địa chỉ: Đường Quốc lộ 32, Xã Tam Hiệp, Phúc Thọ, Hà Nội

Tecco Garden
Địa chỉ: Đường Quang Lai, Xã Tứ Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội

Housinco Grand Tower
Địa chỉ: Ô đất CT5 Khu đô thị mới Tây Nam Kim Giang I, xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, Hà Nội

Galaxy Tower Nguyễn Xiển
Địa chỉ: Thôn Thượng, Xã Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội

Tứ Hiệp Plaza
Địa chỉ: Xã Tứ Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội

Legacy Garden
Địa chỉ: Legacy Garden 214 Nguyễn Xiển, Xã Tân Triều, Huyện Thanh Trì, Hà Nội.

Khu nhà ở thấp tầng Hải Ngân
Địa chỉ: Đường Thanh Liệt, Xã Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội.

Chung cư Tincom Pháp Vân
Địa chỉ: Xã Tứ Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội
Xã Đại Thanh gần với xã, phường nào?
Bản đồ vị trí Đại Thanh
Các trường THPT, CĐ, ĐH tại Xã Đại Thanh - Hà Nội
| STT | Loại | Tên trường | Địa chỉ |
|---|---|---|---|
| 1 | THPT | THPT Ngô Thì Nhậm | Xã Tả Thanh Oai, Thanh Trì |
| 2 | Đại học | Trung Cấp Y Dược Tuệ Tĩnh Hà Nội | Số 6, ngõ 767, Nguyễn Khoái, Thanh Trì, Hoàng Mai, Hà Nội |
Chi nhánh / cây ATM tại Đại Thanh, Hà Nội
Chi nhánh/ PGD ngân hàng ở Xã Đại Thanh - Hà Nội
| STT | Ngân hàng | Tên CN/ PGD | Địa chỉ |
|---|---|---|---|
| 1 | Agribank | Phòng giao dịch Số 2 - Hà Tây | Số Nhà 2, Đa Sỹ, Phường Kiến Hưng, Hà Đông, Hà Nội |
| 2 | Agribank | Phòng giao dịch Số 2 - Hà Tây | Số Nhà 2, Đa Sỹ, Phường Kiến Hưng, Hà Đông, Hà Nội |
| 3 | Agribank | Chi nhánh Thanh Trì | 300 Đường Ngọc Hồi, Thị Trấn Văn Điển, Thanh Trì, Hà Nội |
| 4 | Sacombank | Chi nhánh Thanh Trì | 337 Ngọc Hồi - Thị Trấn Văn Điển - Huyện Thanh Trì - TP Hà Nội |
| 5 | SeaBank | PGD Ngọc Hồi | Số 267 Ngọc Hồi, thị trấn Văn Điển, huyện Thanh Trì, Tp Hà Nội |
| 6 | TPBank | PGD Thanh Trì | 359 Đường Ngọc Hồi, Khu Chợ, TT Văn Điển, huyện Thanh Trì, Hà Nội |
| 7 | Vietcombank | Phòng giao dịch Ngọc Hồi | Tầng 1, tầng 2 nhà số 283 - 285 đường Ngọc Hồi, Thị trấn Văn Điển, Huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội |
| 8 | BIDV | Phòng giao dịch Ngọc Hồi | Số 361, Đường Ngọc Hồi - Văn Điển- Huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội |
| 9 | LPBank | Phòng giao dịch Thanh Trì | Số 05 - 07, ngõ 405, đường Ngọc Hồi, thị trấn Văn Điển, Thanh Trì, Thanh Trì, Thành phố Hà Nội |
| 10 | LienVietPostBank | Phòng giao dịch Thanh Trì | Số 05 - 07, ngõ 405, đường Ngọc Hồi, thị trấn Văn Điển, huyện Thanh Trì, Thanh Trì, Thành phố Hà Nội |
| 11 | BacABank | Chi nhánh Thanh Trì | Số 13 Cầu Bươu, đường Phan Trọng Tuệ, xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, TP Hà Nội |
| 12 | CBBank | PGD Đông Đô | Số 9 Cầu Bươu, đường Phan Trọng Tuệ, xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, TP. Hà Nội |
| 13 | VCBNeo | PGD Đông Đô | Số 9 Cầu Bươu, đường Phan Trọng Tuệ, Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, TP. Hà Nội |
| 14 | Agribank | Phòng giao dịch Cầu Bươu | Số 84 Đường Phan Trọng Tuệ, Xã Tả Thanh Oai, Thanh Trì, Hà Nội |
| 15 | VietinBank | Phòng giao dịch Phan Trọng Tuệ | Số 31/1 Phan Trọng Tuệ, Xã Tả Thanh Oai, Huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội |
| 16 | Sacombank | Phòng giao dịch Tân Triều | 16 Phan Trọng Tuệ, xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, Hà Nội |
| 17 | BIDV | Phòng giao dịch Đại Thanh | Số 31, Đường Phan Trọng Tuệ - Tả Thanh Oai- Huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội |
| 18 | VietinBank | Phòng giao dịch Đại Thanh | Số 63 Đường Phan Trọng Tuệ, Xã Tả Thanh Oai, Thanh Trì, Thành phố Hà Nội |
Cây ATM ngân hàng ở Xã Đại Thanh - Hà Nội
| STT | Ngân hàng | Tên cây ATM | Địa chỉ |
|---|---|---|---|
| 1 | MBBank | Smartbank Tam Hiệp | dốc nhà máy đường, Cụm 7 Tam Hiệp, Phúc Thọ, Hà Nội |
| 2 | MSB | Hà Nội 28 | Tòa nhà CT6A, Phường Kiến Hưng, Quận Hà Đông, Tp. Hà Nội |
| 3 | BIDV | Khu đô thị Thanh Hà, Cienco 5 | Sảnh tầng 1, tòa HH01B lô B1. 4, Khu đô thị Thanh Hà Cienco 5 - Kiến Hưng- Quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội |
| 4 | MSB | Hà Nội 28 | Tòa nhà CT6A, Phường Kiến Hưng, Quận Hà Đông, Tp. Hà Nội |
| 5 | BIDV | Khu đô thị Thanh Hà, Cienco 5 | Sảnh tầng 1, tòa HH01B lô B1. 4, Khu đô thị Thanh Hà Cienco 5 - Kiến Hưng- Quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội |
| 6 | VietinBank | Chi cục thuế huyện Thanh Trìm | 9 Ngõ 405 Đường Ngọc Hồi, Văn Điển, Huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội |
| 7 | Sacombank | Chi nhánh Thanh Trì | 337 Ngọc Hồi - Thị Trấn Văn Điển - Huyện Thanh Trì - TP Hà Nội |
| 8 | Agribank | Chi nhánh Thanh Trì | Số 300 Đường Ngọc Hồi, Thị Trấn Văn Điển, Thanh Trì, Hà Nội |
| 9 | VPBank | Công an huyện Thanh Trì | Khu đấu giá, xã Tứ Hiệp, thị trấn Văn Điển, huyện Thanh Trì, Thanh Trì, Thành phố Hà Nội |
| 10 | BIDV | Công ty CP Pin Hà Nội Đường Phan Trọng Tuệ Thị trấn Văn Điển Hà Nội | 72 Đường Phan Trọng Tuệ, Huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội |
| 11 | SeaBank | Ngọc Hồi | 267 Đường Ngọc Hồi, TT Văn Điển, Huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội |
| 12 | Agribank | Nhà máy Pin Văn Điển | Số 57 Phan Trọng Tuệ, Văn Điển, Huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội |
| 13 | SeaBank | PGD Ngọc Hồi | Số 267 Ngọc Hồi, thị trấn Văn Điển, huyện Thanh Trì, Tp Hà Nội |
| 14 | TPBank | PGD Thanh Trì | 359 Đường Ngọc Hồi, Khu Chợ, TT Văn Điển, huyện Thanh Trì, Hà Nội |
| 15 | Vietcombank | Phòng giao dịch Ngọc Hồi | Tầng 1, tầng 2 nhà số 283 - 285 đường Ngọc Hồi, Thị trấn Văn Điển, Huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội |
| 16 | Agribank | Thôn 2 đường Đông Mỹ | Thôn 2 đường Đông Mỹ, Thị Trấn Văn Điển, Thanh Trì, Hà Nội |
| 17 | BIDV | Viện Kiểm sát Nhân dân huyện Thanh Trì | Số 19 ngõ 405, đường Ngọc Hồi - Văn Điển- Huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội |
| 18 | BacABank | Chi nhánh Thanh Trì | Số 13 Cầu Bươu, đường Phan Trọng Tuệ, xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, TP Hà Nội |
| 19 | MSB | Hà Nội 14 | Tòa CT10B – Khu Đô thị Đại Thanh, Tả Thanh Oai, Huyện Thanh Trì, Hà Nội |
| 20 | BIDV | KĐT Đại Thanh | Tòa nhà CT10B, Khu đô thị Đại Thanh - Tả Thanh Oai- Huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội |
| 21 | BIDV | PGD Đại Thanh | Số 31, đường Phan Trọng Tuệ - Tả Thanh Oai- Huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội |
| 22 | CBBank | PGD Đông Đô | Số 9 Cầu Bươu, đường Phan Trọng Tuệ, xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, TP. Hà Nội |
| 23 | VCBNeo | PGD Đông Đô | Số 9 Cầu Bươu, đường Phan Trọng Tuệ, Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, TP. Hà Nội |
| 24 | VietinBank | Phòng giao dịch Phan Trọng Tuệ | Số 31/1 Phan Trọng Tuệ, Xã Tả Thanh Oai, Huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội |
| 25 | Sacombank | Phòng giao dịch Tân Triều | 16 Phan Trọng Tuệ, xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, Hà Nội |
| 26 | VietinBank | PGD Nam Hà Nội | Km 12, Quốc lộ 1A, thôn Quỳnh Đô, Xã Vĩnh Quỳnh, Thanh Trì, Thành phố Hà Nội |
Ghi chú về Xã Đại Thanh
Thông tin về Xã Đại Thanh, Thành phố Hà Nội liên tục được cập nhật tại tinbds.com. Nếu bạn thấy thông tin không chính xác, vui lòng góp ý với ban quản trị website tinbds.com. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn đóng góp của bạn.
Từ khóa tìm kiếm:
Xã Đại Thanh, Thành phố Hà Nội: mã số, diện tích, dân số, mật độ dân số; Xã Đại Thanh sau sáp nhập
Từ khóa tìm kiếm:
Xã Đại Thanh, Thành phố Hà Nội: mã số, diện tích, dân số, mật độ dân số; Xã Đại Thanh sau sáp nhập
Xem trên Google Maps